vanban.org

Bản án 54/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 11/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị bắt tạm giam từ ngày 06-3-2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành L phạm tội tàng trữ trái phép chất matuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 54/2019/HS-ST
Ngày: 11-7-2019.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dƣơng Thị Phụng.

2. Bà Lê Thị Tú Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoài Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 53/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2019/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thành L, sinh năm 1980 tại Vĩnh Long; nơi cư trú: Ấp LP, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1950 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1959; tiền án: Không; tiền sự: 01 lần vào ngày 31-12-2017, bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng đến 22-10-2018 chấp hành xong; nhân thân: Ngày 27-6-2005 bị Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Long đưa đi cai nghiện 24; ngày 09-9-2011 bị Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long đưa đi cai nghiện 12 tháng; ngày 13-01-2013 bị Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long đưa đi cai nghiện 24 tháng.

Bị bắt tạm giữ - tạm giam từ ngày 06-3-2019 đến nay, bị cáo được trích xuất dẫn giải đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thành L bị nghiện chất ma túy từ năm 2005, đã từng bị đưa vào cơ sở cai nghiện nhưng vẫn tái nghiện. Để có chất ma túy sử dụng nên vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06-3-2019, Nguyễn Thành L cùng với người bạn tên T1 đi bằng xe mô tô từ ấp LP, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long đến khu vực hẻm x, tổ y đường VTS, khóm ND, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến đầu hẻm x, T1 đậu xe chờ, còn L đi vào trong hẻm để tiền xuống mặt đường thì có một gói giấy bạc chứa ma túy Heroine được ném ra ngay vị trí L đứng, L nhặt lấy gói ma túy đi trở ra để T1 chở về thì bị lực lượng Công an thành phố V đang tuần tra phát hiện bắt quả tang L cùng tang vật tại trước hẻm x, tổ y đường VTS, khóm ND, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. T1 thấy L bị bắt nên điều khiển xe chạy thoát.

Quá trình điều tra, L khai nhận mục đích mua ma túy đem về cất giấu để sử dụng. Người bán ma túy cho L và người bạn của L tên T1, do L không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không làm việc được, khi nào xác minh làm việc được sẽ xử lý sau.

Tại kết luận giám định số 107/KLGĐ-PC09 ngày 07-3-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long thì số chất bột màu trắng bên trong gói giấy bạc thu giữ của L là chất ma túy loại Heroin có khối lượng 0,1447 gam.

Vật chứng vụ án: 01 gói niêm phong sau giám định, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh.

Tại bản Cáo trạng số: 59/CT-VKSND-TPVL, ngày 11-6-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm;

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và phát biểu quan điểm các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Khẳng định nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã đề nghị truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật; phân tích đánh giá tác hại của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhận định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong sau giám định; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh nhưng tiếp tục giữ để đảm bảo thi hành bản án; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Lời trình bày của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Thành L thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng miêu tả. Tại phiên tòa, bị cáo nhận ra sai trái, hứa sau này không tái phạm và xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời trình bày của bị cáo Nguyễn Thành L tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu được và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận rằng: Bản thân bị cáo Nguyễn Thành L nghiện ma túy. Để thỏa mãn cơn nghiện, vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 06-3-2019 Nguyễn Thành L cùng với người bạn tên T1 đi bằng xe mô tô từ ấp LP, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long đến khu vực hẻm x, tổ y đường VTS, khóm ND, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long do L trực tiếp mua ma túy của người thanh niên không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể mục đích đem về cất giấu để sử dụng. Khi mua ma túy xong thì L bị lực lượng Công an thành phố V trên đường tuần tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng là ma túy L vừa mua. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định, theo kết luận giám định số 107/KLGĐ-PC09 ngày 07-3-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long thì số chất bột màu trắng bên trong gói giấy bạc thu giữ của bị cáo là chất ma túy loại Heroin có khối lượng 0,1447 gam.

Dấu hiệu hành vi vừa nêu của bị cáo Nguyễn Thành L đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 294 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương, làm ảnh hưởng sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội; bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có nhân thân xấu đã từng bị xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo vẫn tái nghiện, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Nhưng xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thật thà nhận tội, thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Vì vậy, khi quyết định hình phạt xem đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Vật chứng đang tạm giữ gồm:

- Số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi giám định được niêm phong đây là vật phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục giữ để đảm bảo thi hành bản án.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị bắt tạm giam từ ngày 06-3-2019.

- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vật chứng có trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11-6-2019 giữa Công an thành phố V và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V được xử lý như sau:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong sau giám định có chữ ký của Nguyễn Bảo Q với Phạm Thị Hồng H.

- Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh – đen đã qua sử dụng, không có kiểm tra bên trong máy được niêm phong có chữ ký của Nguyễn Bảo Q và Huỳnh Thị Yến N, nhưng tiếp tục giữ để đảm bảo thi hành bản án.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Quốc hội. Buộc bị cáo L nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để xin Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ