- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thuận ly hôn với Hậu"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2019/HNGĐ-ST. Ngày: 04/11/2019. V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH – TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hạ Hải Hồ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Xuân Vĩnh.
2. Bà Nguyễn Thị Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 216/2019/TLST-HNGĐ, ngày 23/7/2019, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25/9/2019 và Quyết định hoãn phiên Tòa số: 37/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 17/10/2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim Th, sinh năm 1995; Địa chỉ: Tổ 9, khu phố 6, thị trấn G, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Hồ Xuân H, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn 7, xã N, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn – chị Trần Thị Kim Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh H tự nguyện tìm hiểu, đi đến hôn nhân; làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai vào năm 2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu. Sau đó bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân chủ yếu là do chị Th và anh H bất đồng quan điểm trong nhiều vấn đề của cuộc sống. Hiện tại vợ chồng không còn chung sống với nhau, không liên lạc hay quan tâm gì đến nhau. Hiện nay chị Th không còn tình cảm với anh H và cũng không muốn đoàn tụ chung sống mà yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị Th và anh H có người con chung tên Hồ Quỳnh Ái Nh, sinh năm 2012. Hiện nay cháu Nh đang ở với chị Th. Khi ly hôn, chị Th yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nh cho đến khi thành niên và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài liệu, chứng cứ chị Th cung cấp: Bản chính giấy đăng ký kết hôn; bản sao giấy khai sinh con chung; bản sao sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân; bản tự khai, đơn xác nhận và đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn – anh Hồ Xuân H vắng mặt. Quá trình xác minh thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án thể hiện: bị đơn – anh H có hộ khẩu thường trú tại Thôn 7, xã N, huyện Tánh Linh nhưng thường đi làm ăn xa, chỉ ngày lễ tết mới về địa phương. Mặc dù đã được thông báo về việc Tòa án thụ lý vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện của chị Th và Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh H vẫn không đến Tòa án để trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ và tham gia tố tụng giải quyết vụ án.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, phát biểu ý kiến như sau:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và Thư ký phiên Tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
- Việc chấp hành pháp luật của đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Thuận đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Riêng bị đơn – anh H không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, các Điều 146, 147, 203, 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116 và 117 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết vế án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Kim Th. Giao cho chị Th được quyền tiếp tục nuôi dưỡng người con chung tên Hồ Quỳnh Ái Nh, sinh năm 2012 cho đến khi thành niên. Về án phí: Buộc chị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn – chị Trần Thị Kim Th và bị đơn – anh Hồ Xuân H đều vắng mặt tại phiên Tòa. Trong đó, chị Th đã có đơn xin xét xử vắng mặt gửi đến Tòa án. Riêng anh H mặc dù đã được Tòa án triệu tập, niêm yết thủ tục tố tụng phiên Tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không rõ lý do. Do đó, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim Th và anh Hồ Xuân H tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã X, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai vào năm 2013. Tuy vắng mặt tại phiên Tòa nhưng theo nội dung lời khai và ý kiến đã trình bày có trong hồ sơ, tại các bút lục số 17, 24, 25 và 40; chị Th vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh H. Bởi vì sau khi kết hôn, chị Th và anh H chung sống không hạnh phúc; vợ chồng thường nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm; giữa vợ chồng không có sự quan tâm, yêu thương nhau, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng. Chị Th hiện nay không còn tình cảm gì với anh H, vợ chồng đã không chung sống với nhau khoảng bốn năm nay nên chị Th không mong muốn vợ chồng đoàn tụ chung sống mà cương quyết ly hôn. Điều này phù hợp với nội dung xác minh tình trạng hôn nhân của chị Th và anh H tại địa phương. Trong khi đó, quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án đã thông báo cho anh H biết việc chị Th làm đơn yêu cầu ly hôn nhưng anh H không hợp tác, không thực hiện quyền cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên Toà án không thể tiến hành hoà giải đoàn tụ được mà phải đưa vụ án ra xét xử công khai. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy tình trạng hôn nhân của chị Th và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị Th được ly hôn với anh H, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa là có căn cứ; phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Trong thời gian chung sống, chị Trần Thị Kim Th và anh Hồ Xuân H có người con chung tên Hồ Quỳnh Ái Nh, sinh năm 2012. Hiện tại cháu Nh đang do chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Thể hiện ý kiến về quyền nuôi con chung khi ly hôn, tại các bút lục số 17, 24, 25 và 40; chị Th yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nh cho đến khi thành niên và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy từ khi không chung sống với nhau nữa thì chị Th vẫn chăm sóc, đảm bảo cuộc sống cho người con chung. Mặc khác cháu Nh cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở với chị Th khi cha mẹ ly hôn. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị Th về quyền nuôi con chung; tiếp tục giao cho chị Th được quyền nuôi dưỡng cháu Hồ Quỳnh Ái Như, sinh năm 2012 cho đến khi thành niên là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Chị Th không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng trong bản án.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Trần Thị Kim Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; các Điều 146, 147, 203, 227, 228, 273 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 56; Các điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim Th được ly hôn với anh Hồ Xuân H.
- Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Giao cho chị Trần Thị Kim Th được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục người con chung tên Hồ Quỳnh Ái Nh, sinh năm 2012 cho đến khi thành niên. Anh Hồ Xuân H không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Th nhưng được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, chị Th không được ngăn cản.
- Về án phí: Chị Trần Thị Kim Th phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số N. 0026853, ngày 23/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh. Chị Th đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tánh Linh; - Các đương sự; - Chi cục Thi hành án dân sự h. Tánh Linh; - UBND xã X; - Lưu văn phòng, hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Hạ Hải Hồ |