vanban.org

Bản án 54/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Lâm Thị Thanh X ly hôn với anh Trần Minh D.

Về con chung: Giao con chung là Trần Lâm Như N, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2012 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận việc chị X không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "X-D"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Lâm Thị Thanh X ly hôn với anh Trần Minh D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 21/10/2019
V/v ly hôn giữa chị X và anh D

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thanh Vũ.

2. Ông Nguyễn Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Trần Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Ngà – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 518/2019/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2019/QĐXX-ST ngày 23 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Thanh X, sinh năm 1986;

Nơi cư trú: 170, ấp P, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Trần Minh D, sinh năm 1985;

Nơi cư trú: 22A, ấp P, xã Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Chị X có mặt, anh D vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các biên bản làm việc trong quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Lâm Thị Thanh X trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Minh Duy kết hôn vào năm 2011, hôn nhân do anh chị tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre vào ngày 15/3/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do

Trang 1

anh D tham gia đá gà, không lo cho gia đình, gây nợ nần. Chị đã nhiều lần cho anh Duy cơ hội thay đổi nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2019 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng giữa chị với anh D không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.

Về con chung: có 01 con chung là Trần Lâm Như N, sinh ngày 02/9/2012; con chung hiện nay đang sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Công việc hiện nay của chị là kinh doanh, thu nhập ổn định khoảng 15 triệu đồng/tháng nên đủ khả năng để lo cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Minh D trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh D đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của anh D.

Tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến: Về tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký và người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Chị X và anh D ly thân từ đầu năm 2019 đến nay. Kết quả xác minh của Tòa án cũng xác định được giữa chị X và anh D có phát sinh mâu thuẫn trong thời gian chung sống. Trong suốt quá trình tố tụng, anh D vắng mặt; điều đó cho thấy anh D không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị X và anh D đã trầm trọng, hôn nhân có kéo dài cũng không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Về con chung, có 01 con chung là Trần Lâm Như N, sinh ngày 02/9/2012, chị X yêu cầu được nuôi con chung, anh D không có yêu cầu gì về con; xét thấy con chung đang sống chung với chị Xuân và cháu N cũng có nguyện vọng sống cùng chị X nên đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị X; chị X không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Tòa ghi nhận. Về tài sản chung và nợ chung chị X không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa án ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa chị Lâm Thị Thanh X và anh Trần Minh D là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh D hiện đang cư trú tại xã Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu

Trang 2

Thành đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhiều lần nhưng bị đơn anh D vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án đã tiến hành lập biên bản không hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh D vẫn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D.

Về hôn nhân: Chị Lâm Thị Thanh X và anh Trần Minh D kết hôn vào năm 2011, hôn nhân do anh chị tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre vào ngày 15/3/2011 (số 17/2011, quyển số 02/2009) nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Chị X xác định chị và anh D đã ly thân từ đầu năm 2019 đến nay, nguyên nhân là do anh D cờ bạc nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Trong thời gian ly thân, chị Xuân đã một lần nộp đơn xin ly hôn với anh D nhưng sau đó chị Xuân đã rút lại đơn khởi kiện để vợ chồng có thời gian hàn gắn tình cảm vợ chồng theo Quyết định đình chỉ số 58/2019/QĐST-HNGĐ ngày 03/5/2019. Tuy nhiên, thời gian vừa qua anh chị vẫn không giải quyết được mâu thuẫn và chị X tiếp tục nộp đơn xin ly hôn với anh D. Qua xác minh Tòa án đã xác định được, thời gian chung sống gần đây chị X và anh D thường hay cãi nhau, gia đình cũng đã động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả và anh D cũng không muốn đến Tòa án để giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần mở phiên hòa giải để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh D không tham gia phiên hòa giải; điều đó cho thấy, anh D không có thiện chí mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Từ đó có cơ sở để xác định, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị X và anh D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì tình trạng này sẽ ảnh hưởng đến đời sống bình thường của các thành viên trong gia đình nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị X.

Về con chung: Theo giấy khai sinh do Ủy ban nhân dân xã X, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre cấp ngày 10/9/2012 thì chị X và anh D có 01 con chung tên Trần Lâm Như N, sinh ngày 02/9/2012 hiện nay đang sống chung với chị X. Chị X yêu cầu được nuôi con chung sau khi ly hôn. Xét thấy, cháu N hiện nay đang sống cùng chị X và cháu N cũng có nguyện vọng được sống cùng mẹ; anh D không có yêu cầu gì về con. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung và không làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của con, Hội đồng xét xử giao cháu N cho chị X trực tiếp nuôi là phù hợp theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị X không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Trang 3

Về tài sản chung và nợ chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Chị X phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng.

Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 147, 207, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Lâm Thị Thanh X ly hôn với anh Trần Minh D.

2. Về con chung: Giao con chung là Trần Lâm Như N, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2012 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận việc chị X không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Chị X phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị X đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004726 ngày 13/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Đương sự đã nộp đủ án phí.

Chị X có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh D vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ