vanban.org

Bản án 54/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 23/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Minh M phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen minh m " vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Minh M phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2018/HSST
Ngày 23-10-2018
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Tĩnh.
2/ Bà Nguyễn Thị Hồng Vy.
ký Tòa án nhân dân Thành phố TA, tỉnh Long An.
Ngọc Thảnh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố TA, tỉnh Long An.
TA, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2018/HSST
ngày 28/8/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2018/HSST – QĐ ngày
09/10/2018 đối với bị cáo:
xã Tân H, huyện CT, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa:
6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị L; Bản thân chưa có vợ; tiền án: Không; tiền
sự: Không; bị cáo được tại ngoại điều tra, có mặt.
Thành phố TA, tỉnh Long An, (đã tử vong).
Trương Thị T; sinh năm: 1943; cư ngụ: đường Nguyễn Văn T, phường 7, Thành
phố TA, tỉnh Long An, vắng mặt.
tại: Ấp TH, xã Tân H, huyện CT, tỉnh Tiền Giang, vắng mặt.
Trong ngày 23 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh M chưa được cấp giấy phép lái xe theo quy định. Vào khoảng 19 giờ ngày 30/4/2018, M điều khiển xe môtô biển số 63H4-2295 (thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn T là cha ruột M) lưu thông trên đường Châu Thị Kim hướng đường Hùng Vương đi Tiền Giang. Khi đến trước nhà đường Châu Thị K, xã AVN, Thành phố TA, tỉnh Long An, M ngủ gật, không chú ý quan sát nên để xe bị cáo điều khiển va chạm vào chân trái và tay trái của bà Trương Thị U đang đi bộ cùng chiều phía trước làm tai nạn xảy ra. Hậu quả tai nạn làm bà Trương Thị U bị thương nặng, đến 21 giờ cùng ngày tử vong tại Bệnh viện đa khoa Long An.

Bị cáo Nguyễn Minh M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên Tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Minh M đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 19 giờ ngày 30/4/2018 do Đội Cảnh sát giao thông Công an Thành phố TA, tỉnh Long An lập xác định:

Hiện trường không còn nguyên vẹn, đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, được trải nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 07 mét ở giữa có vạch sơn trắng không liên tục, áp dụng lưu thông hai chiều. Lúc xảy ra tai nạn trời tối.

Chọn góc tường rào trước bên phải của nhà đường Châu Thị K, xã AVN, Thành phố TA, tỉnh Long An làm mốc.

Chọn mép đường bên phải hướng từ phường 3 – Tiền Giang là đường chuẩn.

Nhìn theo hướng phường 3 – Tiền Giang đầu tiên là vết máu, kích thước 34 x 23 cm, đo từ tâm vết máu đến điểm mốc là 05m90.

Vết cày của xe mô tô biển số 63H4 – 2295 dài 03m70 có chiều hướng từ Phường 3- Tiền Giang , đo từ tâm vết máu đến đầu vết cày là 04m, đo từ đầu vết cày vào đường chuẩn là 04m90, đo từ cuối vết cày vào lề chuẩn là 06m70.

Xe mô tô biển số 63H4 – 2295, xe trong trạng thái dựng đứng bằng chân chống bên trái, đầu xe hướng về phường 3, đo từ tâm bánh trước bên trái của xe vào đường chuẩn là 06m90, cách cuối vết cày là 00m90, đo từ trục bánh xe sau bên trái vào đường chuẩn là 07m80.

Tại biên bản khám xe liên quan tai nạn xác định xe mô tô biển số 63H4 - 2295 có những dấu vết: Mặt nạ trước bị nứt 13 cm; đèn xi nhan bên phải bị bể hoàn toàn; chụp đèn chiếu sáng trước tại vị trí góc phải phía dưới bị nứt 02 cm, góc trên bên trái chụp đèn chiếu sáng phía trước có dấu vết mài mòn 2 x 2 cm; chụp đèn xi nhan trước bên trái có dấu vết mài mòn kích thước 3 x 2 cm, cách đất 95 cm; cần gác chân trước bên trái có dấu ma sát mài mòn cao su kích thước 3 x 2 cm; đầu cao su tay cầm bên trái có dấu mài mòn kích thước 1,3 x 1 cm, cách đất 93 cm; gương chiếu hậu bên phải lệch khỏi vị trí ban đầu.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 111/TT ngày 07/5/2018 của Trung tâm pháp y- Sở y tế Long An, kết luận bà Trương Thị U tử vong do chấn thương sọ não nặng.

Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo và đại diện bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận nêu trên.

Bản cáo trạng số 63/CT-VKSTA-HS ngày 27/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố TA, tỉnh Long An truy tố Nguyễn Minh M về tội Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Minh M bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố TA, tỉnh Long An truy tố tại bản cáo trạng số 63/CT-VKSTA-HS ngày 27/8/2018 về tội Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 260; điều 50; các điểm b, s khoản 1 điều 51; điều 38; điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh M từ 15 đến 18 tháng tù.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố TA, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố TA, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo và đại diện bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Minh M có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 63H4-2295 lưu thông trên đường Châu Thị Kim theo hướng đường Hùng Vương đi Tiền Giang. Khi đến gần nhà số đường Châu Thị K, xã AVN, Thành phố TA, bị cáo ngủ gật không chú ý quan sát phía trước nên để xe mô tô của bị cáo điều khiển va chạm vào bà Trương Thị U đang đi bộ cùng chiều phía trước làm tai nạn xảy ra. Hậu quả tai nạn làm bà Trương Thị U bị tử vong. Theo qui định tại khoản 1 điều 260 Bộ luật Hình sự thì “Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm qui định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000đ đến dưới 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

”. Như vậy, bị cáo Nguyễn Minh M có hành vi điều khiển xe mô tô mà không chú ý quan sát tình trạng mặt đường vi phạm vào khoản 23 điều 8 Luật giao thông đường bộ gây tai nạn làm cho người bị hại bị tử vong là đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Đánh giá tính chất của vụ án: Hành vi trái pháp luật do bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội. Xuất phát từ việc xem thường pháp luật, tính mạng, sức khỏe của người khác nên đưa bị cáo đến phạm tội. Thế nên, đối với bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật để có điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, góp phần phục vụ yêu cầu nhiệm vụ chính trị tại địa phương trước tình hình tai nạn giao thông thường xuyên xảy ra.

Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo điều khiển xe mô tô mà không có giấy phép lái xe theo qui định nên bị cáo bị xét xử ở điểm a khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo có thành khẩn khai báo, có ăn năn hối cải, đã bồi thường xong phần trách nhiệm dân sự, đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qui định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo có đủ điều kiện áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cào khi lượng hình nhưng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với xe mô tô biển số 63H4 - 2295 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn Tuấn, anh Tuấn không giao xe cho bị cáo M điều khiển và việc bị cáo M tự ý lấy và điều khiển xe mô tô biển số 63H4 – 2295 anh Tuấn không biết nên không truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thành phố TA đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho anh Tuấn là phù hợp nên không đề cập.

Về phần trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn bị cáo Nguyễn Minh M đã bồi thường tiền mai táng, ma chay cho gia đình nạn nhân Trương Thị U với tổng số tiền là 80.000.000đ. Đại diện gia đình nạn nhân là bà Trương Thị T đã nhận đầy đủ tiền, không khiếu nại gì về sau, đã làm đơn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Minh M và không còn yêu cầu gì khác nên không đề cập

.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Nguyễn Minh M phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 2 điều 260; điều 50; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điều 38; điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Minh M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ