vanban.org

Bản án 54/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 27/12/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Phạm Văn B1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử pha ̣t Phạm Văn B1 15(mười lăm) tháng tù, nhưng được trừ đi 73(bảy mươi ba) ngày tạm giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về bồi thường dân sự: Chấp nhận bị cáo Phạm Văn B1 đã bồi thường cho anh Nguyễn Hữu TH số tiền điều trị thương tích do B1 gây nên cho anh TH là… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn B gây thương tích cho anh Nguyễn Hữu T - phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Phạm Văn B1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TAND HUYÊN YÊN ĐỊNH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2018/HSST
Ngày 27-12-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Võ Kỳ Anh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Ngọc Thanh

2. Bà Vũ Thị Nguyệt

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Dung - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên

Trong ngày 27 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn B1, sinh ngày 25 tháng 3 năm 1991 tại xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Phố Toàn Tân, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B2, sinh năm: 1968 và bà Nguyễn Thị TH, sinh năm: 1972, hiện nay đang sinh sống tại thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không.

Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 15/5/2017 bị Công an huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi: Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác với số tiền phạt là 2.000.000đ (hai triệu đồng). Ngày 26/5/2017, bị cáo đã nộp xong khoản tiền phạt nêu trên.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/7/2018, đến ngày 21/9/2018 thì được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: Anh Nguyễn Hữu TH, sinh năm 1991.

Trú tại: Phố Đại Đồng 2, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

- Những người làm chứng:

1. Anh Trương Minh Đ, sinh năm: 1997

Trú tại: Thôn Trịnh Điện, xã Định Hải, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

2. Anh Lê Khắc TH, sinh năm: 1977

Trú tại: Khu 5, TT. Quán Lào, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

Tại phiên tòa vắng mặt anh TH, anh Đ và anh TH.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 23 tháng 5 năm 2018, Phạm Văn B1 đi xe máy từ nhà ở khu Phố Toàn Tân, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa lên nhà anh Trương Minh Đ, sinh năm 1997, ở xã Định Hải, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa để chơi. Khi lên đến nơi, ngồi chơi được một lúc thì B1 nhờ Đ điện thoại cho anh Nguyễn Hữu TH ở phố Đại Đồng, thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, hỏi xem nay anh TH có đi làm không thì anh TH nói: “hôm nay có đi làm”. Được một lúc sau B1 lấy điện thoại gọi cho anh TH, anh TH nghe máy và nói: “đang đi làm, lúc nào về công ty thì liên lạc lại”. Được khoảng hơn một giờ sau thì B1 lại điện lại cho anh TH, anh TH nói: “đang về”, rồi bảo B1 qua quán cafe Bờ Hồ thuộc địa phận Khu 2, thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa ngồi đợi. Khi nghe anh TH nói vậy, B1 liền vào nhà anh Đ lấy một con dao rồi mang ra cất giấu vào cốp xe máy, rồi rủ anh Đ đi uống nước. Sau đó, B1 lai anh Đ đến quán cafe Bờ Hồ để uống nước. Sau khi đến nơi thì Đ trèo lên cây sung lấy quả ăn, còn B1 lấy con dao được cất giấu trong cốp xe ra, rồi cầm dao đi vào trong quán ngồi uống nước. Khi vào ngồi uống nước, B1 để con dao ở phía bên tay phải của mình rồi chờ anh TH đến. Khoảng 14 giờ, anh TH đi xe máy đến nơi và đi vào quán nơi B1 ngồi uống nước. Giữa B1 và TH đã có mâu thuẫn từ trước nên TH đi vào thì hai bên có xảy ra cãi vả, lúc này B1 liền lấy con dao bên cạnh giơ lên nói “mày có dao thì hôm nay tao với mày đánh nhau”. Khi thấy B1 giơ dao lên, anh TH liền bỏ chạy ra hướng đường Quốc lộ 45. Thấy anh TH chạy, B1 cầm dao đuổi theo. Sau khi chạy được khoảng 20 đến 30 mét thì anh TH bị ngã, sau đó ngồi dậy chạy tiếp. Khi chạy được khoảng 2 đến 3 bước thì anh TH lại bị ngã tiếp. Lúc này, B1 đang chạy theo sau đuổi kịp, B1 liền vung dao lên chém từ trên xuống dưới vào người anh TH. Anh TH đưa tay phải lên đỡ thì bị thương ở tay phải, anh TH liền la lên “B1 ơi mi chém đứt tay tao rồi”. Lúc đó, B1 nhìn thấy anh TH chảy máu nhiều nên dừng lại thôi không chém nữa. Sau đó, được mọi người can ngăn nên B1 bỏ đi, còn anh TH được đưa đi bệnh viện để cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Thời gian điều trị từ ngày 23/5/2018 đến ngày 31/5/2018, tổng thời gian điều trị tại bệnh viện là 08 (tám) ngày.

Ngày 28 tháng 5 năm 2018, anh Nguyễn Hữu TH đã làm đơn tố cáo đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Định.

Quá trình điều tra xác định được anh TH bị 01 (một) vết thương ở vùng cổ tay phải, kích thước 13cm x 0,1mm, bờ vết thương sắc gọn, đã khâu 14 mũi, được bó nẹp.

Ngày 19/6/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Định đã ra quyết định trưng cầu giám định thương tích của anh Nguyễn Hữu TH do B1 gây nên. Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 400/2018/TTPY ngày 21/6/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Nguyễn Hữu TH là 34% (ba mươi tư phần trăm).

Ngày 05/8/2018, anh Nguyễn Hữu TH có đơn gửi đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Định đề nghị được đi giám định lại thương tích và bản thân bị cáo Phạm Văn B1 cũng có đơn đề nghị giám định lại thương tích đối với vết thương B1 đã gây ra cho anh TH. Ngày 11/9/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Định đã ra quyết định trưng cầu giám định lại thương tích của anh Nguyễn Hữu TH do B1 gây nên. Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 585/2018/TTPY ngày 14/9/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Nguyễn Hữu TH là 25% (hai mươi lăm phần trăm).

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 31/7/2018, bố mẹ của bị cáo Phạm Văn B1 là ông Phạm Văn B2 và bà Nguyễn Thị TH đã đến nhà anh Nguyễn Hữu TH hỗ trợ tiền viện phí, thuốc men và bồi dưỡng sức khỏe cho gia đình anh Nguyễn Hữu TH tổng số tiền là 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng). Quá trình điều tra, người bị hại Nguyễn Hữu TH yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).

Về vật chứng: Con dao mà Phạm Văn B1 dùng làm hung khí gây thương tích cho anh TH là một con dao được làm bằng thép, dài khoảng 50 cm, rộng khoảng 4 cm, màu đen, cán gỗ, mũi dao nhọn. Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Định đã yêu cầu B1 giao nộp, nhưng B1 khai sau khi chém anh TH xong thì vứt lại tại khu vực hiện trường thuộc địa phận Khu 2, thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định, Thanh Hóa. Ngày 13/6/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Định đã tiến hành lập biên bản truy tìm vật chứng đối với con dao B1 dùng để gây thương tích cho anh TH. Kết quả: Không tìm thấy vật chứng trên.

Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKS-YĐ ngày 15/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố bị cáo Phạm Văn B1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Văn B1 về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 134, điểm b, s, u khoản 1 Điều 51, điều 54, điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Văn B1 từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, nhưng được trừ đi 73 ngày tạm giam.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Hữu TH yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm số tiền là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, anh TH không xuất trình được các hóa đơn, chứng từ liên quan đến chi phí điều trị chứng minh cho yêu cầu bồi thường thêm 20.000.000đ, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu bồi thường thêm 20.000.000đ của anh TH.

Về xử lý vật chứng: Con dao bị cáo dùng để gây thương tích cho anh TH không thu hồi được nên không có cơ sở xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

̀

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Đi ̣nh, Điều tra viên ; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Đi ̣nh , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã TH hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã TH hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo Phạm Văn B1:

Do có mâu thuẫn từ trước, nên khoảng 14 giờ ngày 23/5/2018, bị cáo Phạm Văn B1 đã dùng dao chém vào tay phải của anh Nguyễn Hữu TH. Hậu quả anh TH phải đi bệnh viện điều trị và bị tổn thương cơ thể, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 25% (hai mươi lăm phần trăm).

Tại phiên tòa sơ thẩm , bị cáo đã thừa nhận hành vi ph ạm tội của mình như nô ̣i dung bản cáo tra ̣ng. Lờ i khai nhâ ̣n của bi ̣ cáo phù hợp vớ i các t ài liệu, chứ ng cứ có trong hồ sơ . Bị cáo đã dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào tay phải của anh Nguyễn Hữu TH gây thương tích cho anh TH, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 25%. Đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phạm Văn B1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Thanh Hóa truy tố Phạm Văn B1 về “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm sức khỏe của người khác là một khách thể quan trọng được pháp luật bảo vệ, mà còn làm thiệt hại đến kinh tế của người bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước. Vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung. Cần áp dụng điều 38 BLHS để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giúp bị cáo cải tạo thành người có ích cho xã hội.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 15/5/2017 bị Công an huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi: Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác với số tiền phạt là 2.000.000đ (hai triệu đồng). Ngày 26/5/2017, bị cáo đã nộp xong khoản tiền phạt nêu trên. Đến thời điểm TH hiện hành vi cố ý gây thương tích cho anh Nguyễn Hữu TH (ngày 23/5/2018), chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt hành chính.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trong thời gian tạm giam, bị cáo đã tác động với gia đình để bồi thường chi phí điều trị, thuốc men và tiền bồi dưỡng sức khỏe cho người bị hại. Sau khi được thay đổi biện pháp ngăn chặn, bị cáo đã có công cứu giúp người bị nạn, được gia đình người bị nạn và chính quyền địa phương xác nhận thuộc trường hợp lập công chuộc tội và bị cáo được người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Do bị cáo là người có nhân thân xấu nên cần áp dụng điều 38 của Bộ luật Hình sự để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì có 3 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 điều 51 BLHS. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 điều 51 của BLHS để lên cho bị cáo một mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và giáo dục phòng ngừa chung.

Trong giai đoạn điều tra, bị cáo bị tạm giam 73 ngày (từ ngày 10/7/2018 đến ngày 21/9/2018) do đó khi quyết định hình phạt cần trừ thời gian tạm giam cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động với thân nhân để bồi thường cho người bị hại là anh Nguyễn Hữu TH số tiền 80.000.000đ và được anh TH làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên sau đó anh TH cho rằng anh vẫn phải chi phí thêm một số khoản khác trong việc điều trị thương tích do bị cáo gây nên là 20.000.000đ và yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh TH số tiền trên.

Trong gian đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án nhân dân huyện Yên Định đã triệu tập anh TH đến Tòa án nhiều lần để yêu cầu xuất trình các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, nhưng anh TH không có mặt và cũng không xuất trình các tài liệu liên quan đến việc điều trị vết thương của mình.

Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Nguyễn Hữu TH vắng mặt không có lý do. Xét yêu cầu của anh TH thấy rằng: anh TH không có các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, vì vậy cần tách ra giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác, dành quyền khởi kiện về bồi thường dân sự đối với thương tích của anh TH do bị cáo gây nên bằng vụ kiện dân sự khác.

[6] Xử lý vâ ̣t ch ứng: Con dao bị cáo dùng để gây thương tích cho anh TH không thu hồi được nên không có cơ sở xử lý.

[7] Án phi:

́

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 134; điểm b, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố Phạm Văn B1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử pha ̣t Phạm Văn B1 15(mười lăm) tháng tù, nhưng được trừ đi 73(bảy mươi ba) ngày tạm giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về bồi thường dân sự: Chấp nhận bị cáo Phạm Văn B1 đã bồi thường cho anh Nguyễn Hữu TH số tiền điều trị thương tích do B1 gây nên cho anh TH là 80.000.000đ.

Dành quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác cho anh Nguyễn Hữu TH đối với việc yêu cầu Phạm Văn B1 bồi thường thương tích mà anh TH đã phải chi trả thêm ngoài số tiền đã bồi thường là 80.000.000đ.

4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Phạm Văn B1 phải nộp 200.000đ án phí hính sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo , vắng mă ̣t ngườ i bi ̣ hại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngườ i bi ̣ ha ̣i vắng mă ̣t được quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ