- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phương Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phương Văn T, phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAH’LEO TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2018/HSST Ngày: 25/6/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Tuyển.
2. Bà Triệu Thị Danh.
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Xuân Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện EaH’Leo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên toà: Ông Mai Xuân Huân - Kiểm sát viên.
Ngày 25/6/2018, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo. Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 53/2018/HSST, ngày 17 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phương Văn T - Sinh năm: 1997, tại tỉnh Đắk Lắk; CMND 241832103 cấp ngày 06/6/2016, nơi cấp Công an tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Phương Văn Th, sinh năm 1968 và bà Lâm Thị L, sinh năm 1972; vợ: Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1996; bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án; tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/3/2018 chuyển tạm giam ngày 16/3/2018, hiện đang bị tạm giam. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Anh Trần Hà N, Sinh năm 1986.
Trú tại: xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 11/3/2018 bị cáo Phương Văn T đến chợ Chư Ktây (thôn 6, xã Ea Khal, huyện Ea H’Leo) để mua ma túy về sử dụng, tại đây bị cáo gặp một người đàn ông tên gọi là M (không rõ nhân thân lai lịch, nơi cư trú) mua 3.000.000đ ma túy sau đó bị cáo mang về nhà phân chia thành 36 gói nhỏ cất giữ để sử dụng dần. Đến 8 giờ ngày 12/3/2018 T lấy ra để sử dụng thì bị Công an huyện Ea H’Leo phát hiện bắt giữ và lập biên bản phạm tội quả tang đồng thời niêm phong số ma túy nói trên.
Tại bản kết luận giám định số: 303/GĐMT/PC54 ngày 16/3/2018, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chất bột màu trắng đựng trong 36 gói giấy bạc màu trắng gửi đi giám định có trọng lượng 1,0954gam là ma túy, loại ma túy là Hê rô in.
Cáo trạng số 54/KSĐT-HS ngày 16/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, truy tố bị cáo Phương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa: Sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội, các tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phương Văn T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phương Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số tang vật còn lại sau giám định là 1,0421 gam Hê rô in.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Bị cáo nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Ea H’Leo, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do nghiện ma túy nên Phương Văn T đã mua ma túy với số lượng 1,0954 gam Hê rô in, mục đích để sử dụng cho bản thân, sau khi mua xong bị cáo mang về nhà phân chia thành 36 gói nhỏ cất giữ để sử dụng dần thì bị bắt quả tang.
Khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo có đủ nhận thức biết hành vi của mình là phạm tội. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Phương Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Tại Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1, “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
.......
c) Hêrôin, Côcain, Mêthamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam”.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Hê rô in là chất gây nghiện mạnh, làm hủy hoại sức khỏe, suy thoái giống nòi, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, văn hóa đời sống xã hội, đồng thời là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn như mại dâm, HIV/AIDS và làm gia tăng các tội phạm như trộm cắp, lừa đảo, cướp của, giết người… Hiện nay ma túy là vấn đề nhức nhối và bức xúc của xã hội, nhà nước đã tốn nhiều công sức và tiền của cho việc phòng, chống ma túy, nhưng các tệ nạn và loại tội phạm về ma túy không giảm mà ngày càng gia tăng, tính chất, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp. Bị cáo là người có đủ nhận thức, biết rõ tác hại của chất ma túy và hành vi mua bán, tàng trữ chất ma túy là phạm tội và sẽ bị pháp luật trừng trị rất nghiêm khắc, nhưng vì lối sống buông thả, ý thức xem thường pháp luật, nên bị cáo đã nghiện ngập và thực hiện hành vi phạm tội.
Do vậy, cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật, đồng thời phát huy tác dụng răn đe, phòng ngừa chung, phục vụ cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương nói riêng và cả nước nói chung.
Tuy nhiên, xét thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh khó khăn, có hai con còn nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng nhằm giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.
Xét mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có phần hơi cao bởi lẽ bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh khó khăn, có hai con còn nhỏ; số lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn. Do vậy Hội đồng xét xử cần xem xét lại khi lượng hình.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 1,0421 gam Hê rô in.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Phương Văn T, phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Phương Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 12/3/2018).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 1,0421 gam Hê rô in còn lại sau giám định (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 17/5/2018 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Ea H’Leo và Chi cục Thi hành án dân sự huyện E).
Về án phí: Bị cáo Phương Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| *Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện KSND huyện Ea H’Leo; - Bộ phận HSNV CA huyện Ea H’Leo; - Cơ quan THAHS CA huyện Ea H’Leo; - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện E; - Toà án nhân dân tỉnh Đăk Lăk; - Sở tư pháp tỉnh Đ. - Lưu hồ sơ, vi tính. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Long |