vanban.org

Bản án 54/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 11/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị X 07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 23/7/201.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị X - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị X 07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 23/7/201.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NINH HÒA
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2018/HS-ST
Ngày 11-9-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Phạm Thùy My

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Chí

Bà Bùi Thị Truyền

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Ngô Bảo Nhật Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2018/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2018/HSST-QĐ ngày 30 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Phạm Thị X - sinh năm: 197..; tại: Ninh Hòa, Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn L, xã S, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N..; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm T (đã chết) và bà: Nguyễn T2 (đã chết); có 02 con lớn sinh năm 199.., nhỏ sinh năm 200..; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/201.. đến ngày 15/10/201.. được thay đổi biện pháp ngăn chặn; bị cáo bỏ trốn; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Ông Hoàng H, sinh năm 198... Địa chỉ: Thôn T, xã S, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Phạm B, sinh năm 199... Địa chỉ: Thôn P, xã B, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sáng ngày 23/7/201.., qua liên lạc bằng điện thoại Phạm Thị X biết Phạm B đang cần mua ma túy cần sa để sử dụng nên X dùng xe mô tô biển kiểm soát 79H1-37… đi từ nhà ở xã S tới khu vực núi Đ thuộc xã X gặp người chưa rõ tên tuổi mua 16 gói nhựa chứa lá cần sa với giá 1.000.000đ để bán lại kiếm lời. Khoảng 15 giờ cùng ngày X hẹn B đến khu vực thôn T, xã X khi đang bán cho B 03 gói nhựa chứa lá cần sa với giá 100.000đ/gói thì bị công an phát hiện bắt quả tang. Qua khám xét thu giữ trên xe X 13 gói cần sa, thu từ B 03 gói cần sa.

Qua điều tra Phạm Thị X khai nhận khoảng tháng 5/2015 còn bán ma túy cần sa cho Phạm B và Hoàng H nhưng qua khám xét tại nhà X không thu giữ được vật chứng.

Tại Bản kết luận giám định số 291/GĐTP/2014 ngày 28/7/201.. của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa thì: Lá cây khô trong các mẫu ký hiệu gửi giám định là chất ma túy cần sa.

Tại bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Phạm Thị X về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Phạm Thị X mức án từ 07 năm – 07 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng vụ án:

+ Lá cần sa trong phong bì ký hiệu A3 (đã niêm phong).

+ 01 (Một) xe mô tô hiệu Nouvo biển kiểm soát 79H1 – 37... (không kiểm tra chất lượng bên trong).

+ 01 (Một) điện thoại di động hiệu DOPOP vỏ màu xanh (không kiểm tra chất lượng bên trong).

+ Số tiền 300.000 đồng theo giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số CT 0009913 ngày 22 tháng 11 năm 201.. của Kho bạc nhà nước thị xã Ninh Hòa.

Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý các vật chứng trong vụ án như sau: Chiếc xe máy và điện thoại là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, số tiền 300.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước; đối với các vật chứng khác không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục:

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị X vắng mặt nhưng xét thấy bị cáo trốn và việc truy nã không có kết quả nên Hội đồng vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; vắng mặt người làm chứng nhưng xét thấy họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Về nội dung:

Tại phiên tòa trước, việc bị cáo thay đổi lời khai là không có căn cứ. Cơ quan điều tra đã chứng minh được bị cáo X đã bán ma túy cho Phạm B 02 lần và bán cho Hoàng H 02 lần, đây là tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự. Mặc dù, bị cáo chỉ thừa nhận thực hiện hành vi bán ma túy 01 lần nhưng lời khai ban đầu và sau khi bị bắt quả tang của bị cáo đều khai nhận đã bán ma túy cho Phạm B 02 lần. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản đối chất, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; lời khai người làm chứng. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Phạm Thị X đã bán ma túy nhiều lần cho nhiều đối tượng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền về các chất ma túy của Nhà nước là một trong những khách thể quan trọng được Bộ luật Hình sự bảo vệ, làm lan truyền các bệnh truyền nhiễm, là một vấn nạn cho gia đình và xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong cộng đồng dân cư, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Xét thấy, bị cáo Phạm Thị X là người thực hiện hành vi phạm tội 02 lần bán ma túy cho Phạm B và Hoàng H nên thuộc trường hợp định khung tăng nặng với tình tiết “Phạm tội nhiều lần” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo Phạm Thị X mức án nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung tội phạm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có nhân thân tốt nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo sớm trở thành người có ích cho xã hội, sớm trở về với gia đình.

Đối với vai trò của Phạm B và Hoàng H, trước đó bị cáo Phạm Thị X có hành vi bán trái phép chất ma túy cần sa cho B và H nhưng do không đủ căn cứ nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về vật chứng vụ án gồm:

+ Lá cần sa trong phong bì ký hiệu A3 (đã niêm phong).

+ 01 (Một) xe mô tô hiệu Nouvo biển kiểm soát 79H1 – 37… (không kiểm tra chất lượng bên trong).

+ 01 (Một) điện thoại di động hiệu DOPOP vỏ màu xanh (không kiểm tra chất lượng bên trong).

+ Số tiền 300.000 đồng theo giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số CT 0009913 ngày 22 tháng 11 năm 201.. của Kho bạc nhà nước thị xã Ninh Hòa.

Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe máy và điện thoại là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, số tiền 300.000 đồng do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước; đối với các vật chứng Lá cần sa không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Phạm Thị X phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 194; khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị X 07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 23/7/201.. đến ngày 15/10/201...

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:

+ 01 (Một) xe mô tô hiệu Nouvo biển kiểm soát 79H1 – 37… (không kiểm tra chất lượng bên trong) và 01 (Một) điện thoại di động hiệu DOPOP vỏ màu xanh (không kiểm tra chất lượng bên trong) có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an thị xã Ninh Hòa và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Ninh Hòa ngày 21/11/201...

+ Số tiền 300.000 đồng theo giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số CT 0009913 ngày 22 tháng 11 năm 201.. của Kho bạc nhà nước thị xã Ninh Hòa.

- Tịch thu và tiêu hủy: Lá cần sa trong phong bì ký hiệu A3 (đã niêm phong) có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an thị xã Ninh Hòa và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Ninh Hòa ngày 21/11/201...

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Thị X phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ