- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Mộng H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Mộng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2018/HS-ST Ngày: 23-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Hữu Ý.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Bảo và ông Vũ Đức Bính.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Thành, Thư ký Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Toại - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo: Bùi Mộng H, sinh năm 1971; ĐKHK và nơi cư trú: xóm 12, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá lớp 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Mộng H1 và bà Trần Thị H; có vợ là Đoàn Thị T, sinh năm 1979 và có 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ ngày 24/8/2018 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình ngày 25/8/2018 (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Văn P và chị Vũ Thị C, đều sinh năm 1979 cùng trú tại: thôn N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (đều vắng mặt)
Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn K và anh Dương Văn H (đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do là người sử dụng trái phép chất ma túy, khoảng 11 giờ ngày 24/8/2018, Bùi Mộng H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35K1- 221.06 đi từ nhà đến khu vực nghĩa địa Công giáo thuộc xóm 2, xã K, huyện K tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân; tại đây H gặp một người đàn ông không quen biết hỏi và mua được 01 gói ma túy giá 300.000đ rồi cầm ở tay phải đi về nhà. Khoảng 11 giờ 10 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường thuộc xóm 4, xã K, Hoàng thấy vắng người nên dừng xe lấy gói ma túy ra xem thì bị Tổ công tác Công an huyện K đang làm nhiệm kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của H gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy nilong màu đen và 01 xe máy biển kiểm soát 35K1- 221.06. Tiến hành mở niêm phong cân xác định trọng lượng gói nhỏ thu giữ của H bên trong là chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng 0,32 gam ký hiệu M gửi trưng cầu giám định. Tại kết luận giám định số 168/KLGĐ-PC54-MT ngày 25/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3219 gam là ma túy, loại Hêrôin.
Bản cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 31/10/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Bùi Mộng H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị HĐXX, tuyên bố bị cáo Bùi Mộng H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; xử phạt bị cáo từ 16 tháng đến 19 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng đã thu giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của người làm chứng; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: khoảng 11giờ 10 phút ngày 24/8/2018 tại đoạn đường thuộc xóm 4, xã K, huyện K, tỉnh Ninh bình; Công an huyện K đã phát hiện bắt quả tang Bùi Mộng H đang cất giữ bất hợp pháp 0,3219 gam hêrôin với mục đích sử dụng, với hành vi và khối lượng hêrôin thu giữ của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; là nguyên nhân nảy sinh các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo.
Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là con của người có công với cách mạng, đây là các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về nguồn gốc Hêrôin: bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết ở khu nghĩa địa Công giáo thuộc xóm 2, xã K, huyện K; nhưng không biết tên, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra xử lý.
Về xử lý vật chứng: Chiếc xe máy BKS 35 K1-221.06 thu giữ từ bị cáo quá trình điều tra xác định bị cáo mượn của vợ chồng ânh Đỗ Văn P và chị Vũ Thị C; trú tại: thôn N, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vợ chồng anh P không biết việc bị cáo mượn xe để đi mua ma túy. Cơ quan điều tra, Công an huyện K, tỉnh Ninh Bình đã trả chiếc xe máy nêu trên cho anh P, chị C và nay không có đề nghị gì nên không xem xét.
Đối với 01 phong bì niêm phong ghi số 168/2018/GĐMT bên trong có 0,2579 gam hêrôin vật chứng còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong bên trong có vỏ gói ngoài gói nhỏ là giấy nilong màu đen, vỏ trong là giấy trắng có chữ in mực màu đen và vỏ phong bì niêm phong gói nhỏ khi bắt bị cáo, đây là vật nhà nước cấm tàng trữ và là vật không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện và tuân thủ đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bùi Mộng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo 18 (Mười tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2018.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 104/2018/GĐMT bên trong có 0,2579 gam hêrôin vật chứng còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong bên trong có vỏ gói ngoài gói nhỏ là giấy nilong màu đen, vỏ trong là giấy trắng có chữ in mực màu đen và vỏ phong bì niêm phong gói nhỏ khi bắt bị cáo (chi tiết vật chứng có trong biên bản giao nhận giữa Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện K ngày 01/11/2018).
Căn cứ Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình. - VKSND huyện K - Chi Cục T.H.A huyện K - Công an huyện K. - UBND xã L; - Những người tham gia tố tụng;. - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Hữu Ý (Đã ký) |