- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST số 54/HSST ngày 29/6/2018 đối với bị cáo Lê Xuân D. Về tội "Mua bán trái phép chất túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. -…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA TỈNH THANH HÓA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:54/2018/HS-ST Ngày 29/6/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Thư
Bà Đỗ Thị Vân
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Vân- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Xuân Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2018/TLST-HS ngày 08/6/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Lê Xuân D, sinh ngày 21 tháng 01 năm 1992 tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: thôn 2, xã Hoằng Th, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp; Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông Lê Xuân Thanh, sinh năm 1956 và bà Lê Thị Minh, sinh năm 1957; Vợ,con: Chưa; Tiền án: Ngày 28/10/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2018 đến nay. Có mặt Người làm chứng: 1. Anh Lê Văn Sự, sinh năm 1976. Vắng mặt
Địa chỉ: xã Hoằng Kim, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
2. Chị Trần Thị Giang, sinh năm 1996. Vắng mặt.
3. Anh Nguyễn Văn Trung, sinh năm 1965. Vắng mặt
Đều địa chỉ: xã Hoằng Đồng, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 9h ngày 29/3/2018 tổ công tác Đội cảnh sát tội phạm về ma túy đang làm nhiệm vụ tại khu vực thôn 1, xã Hoằng Đồng phát hiện bắt qủa tang Lê Xuân D đang bán trái phép chất ma túy cho Lê Văn Sự tại khu vực đường liên thôn trước cổng nhà nghỉ Hoàng Gia thuộc thôn 1, xã Hoằng Đồng. Tang vật chứng thu giữ: Kiểm tra và thu trong túi quần trước bên trái của Sự 02 gói giấy kích thước khoảng 2 x 2 cm bên trong đều chứa chất bột màu trắng ngà ( niêm phong ký hiệu M1), 01 bơm kim tiêm nhựa, 01 ống nước Novocain 3% ( đều chưa qua sử dụng); Thu trong túi quần phía sau bên phải của Lê Xuân D 200.000đ VNĐ, kiểm tra trong túi quần phía trước bên phải 01 gói giấy kích thước khoảng 2 x 2 cm bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà ( Niêm phong ký hiệu M2), và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen đã cũ.
Tại kết luận số 720/PC54- MT ngày 01/4/2018 của Phòng khoa học hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
+ Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định ma túy : Có khối lượng 0,021gam loại Hêrôin.
+ Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy: Có khối lượng 0,016 gam loại Hêrôin.
Toàn bộ số Hêrôin cơ quan điều tra đã thu giữ niêm phong còn lại sau giám định hiện đang được tạm giữ tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Xuân D đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nêu trên, phù hợp với tài liệu, chứng cứ và lời khai của người làm chứng có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 62/CTr-VKSHH ngày 05/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa truy tố bị cáo Lê Xuân D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Xuân D. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với mức hình phạt từ 30 đến 36 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 720/MT-PC54, 01 ống dung dịch Novocain 3%, 01 xi lanh nhựa chưa qua sử dụng; Tịch thu xung công 01 chiếc điện thoại đã qua sử dụng hiệu Nokia đã cũ màu đen và tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) dùng vào việc phạm tội.
Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Lê Xuân D trình bày: Chỉ vì nghiện ngập nên bị cáo phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoằng Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với hành vi của bị cáo Lê Xuân D là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, bán trái phép chất ma túy cho Lê Văn Sự thì bị thu giữ số ma túy đã được giám định có tổng khối lượng 0,037g loại Hê rôin. Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, lời khai của Lê Văn Sự cũng phù hợp với lời nhận tội của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo Lê Xuân D đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm, hình phạt được quy định và trừng trị tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của bị cáo Lê Xuân D đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, băng hoại giống nòi, ảnh hưởng xấu đến xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 28/10/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành xong hình phạt tù 16.11.2017. Nay bị cáo lại phạm tộm mới khi chưa được xóa án do đó lần phạm tội này là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội ngoài hình phạt chính có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ năm triệu đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có công ăn việc làm, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Chất ma túy là vật cấm tự do lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 720/MT-PC54, 01 xi lanh nhựa ml, 01 ống dung dịch NOVOCAIN 3% và tịch thu thanh lý sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đã dùng vào việc phạm tội.
Đối với Lê Văn Sự là người mua trái phép chất ma túy để sử dụng đã bị Công an huyện Hoằng Hóa xử phạt hành chính; đối với người đàn ông bán ma túy cho D nhưng không biết tên tuổi địa chỉ nên không có căn cứ xác minh xử lý, vì vậy HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo bị kết án do đó phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Xuân D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Xuân D 28( Hai tám) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 29/3/2018.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 720/MT-PC54.
- Tịch thu tiêu hủy 01 ống dung dịch Novocain 3% chưa sử dụng; 01 xi lanh nhựa chưa qua sử dụng.
- Tịch thu thanh lý để sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại đã qua sử dụng hiệu Nokia 105 màu đen.
( Tất cả vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 61/BBGN ngày 20/6/2018.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2015/0000782 ngày 04/4/2018.
Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình; Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Xuân D chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -VKSND h.Hoằng Hóa; -TAND tỉnh Thanh Hóa; -Chi cục THADS h.Hoằng Hóa; -Công an h.Hoằng Hóa; -TAND tỉnh Thanh Hóa; -Bị cáo; -UBND xã Hoằng Th; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Phƣơng |