vanban.org

Bản án 54/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Trà Vinh Tuyên án 22/11/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo c a bị cáo Lê Chí D.

Sửa bản án hình sự s thẩm số: 19/2018/HS-ST, ngày 26/9/2018 c a Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T. Tuyên bố bị cáo Lê Chí D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thôn đườn bộ”.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Chí D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - Bị truy tố tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo c a bị cáo Lê Chí D.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH
___________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2018/HS-PT
Ngày 22-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành

Các Thẩm phán:

Ông Trịnh Minh Tự

Ông Ngô Đê

-Thư ký phiên tòa: Ông Phan V Lăng là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hoàng -Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 88/2018/TLPT-HS ngày 06 tháng 11năm 2018 đối với bị cáo Lê Chí D do c kháng cáo c a bị cáo Lê Chí D đối với Bản án hình sự s thẩm số: 19/2018/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2018 c a Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T.

-Bị cáo có hán cáo:

Lê Chí D, sinh ngày 01 tháng 01 năm: 1985 tại T. N i cư trú: ấp 13, xã L, thị xã D, tỉnh T; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ (chết) và bà La Thị T, sinh năm 1943; có vợ tên Ngô Thị Hồng N, sinh năm 1991; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân tốt; bị cáo bị cấm đi khỏi n i cư trú từ ngày 03 tháng 4 năm 2018 đến nay (bị cáo c mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn c người đại diện hợp pháp c a người bị hại, người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, do không c kháng cáo, không có kháng nghị và không c liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 15/02/2018, Lê Chí D điều khiển xe mô tô biển số 84H9-8129 chở vợ tên Ngô Thị Hồng N ngồi sau đi trên tuyến giao thông Quốc lộ 53 hướng đi từ thị xã D - thành phố T, khi đến đoạn đường thuộc ấp S, xã L, huyện C, Lê Chí D nhìn qua ánh đèn chiếu sáng phía trước phát hiện ông Lai T đang đứng bên lề phải tuyến Quốc lộ 53 (hướng thị xã D – thành phố T) chuẩn bị qua đường, Lê Chí D không giảm tốc độ để nhường đường cho người đi bộ qua đường mà điều khiển xe tránh qua phần đường bên trái hướng đi nên tay cầm bên phải xe mô tô va chạm vào vùng hông trái c a ông Lai T làm ông té ngã ngữa xuống lộ nhựa chấn thư ng vùng đầu, xe c a Lê Chí D điều khiển c ng ngã cày xuống lộ một đoạn khoảng 03 mét vào lề trái hướng đi thì dừng lại, Lê Chí D và chị Ngô Thị Hồng N bị thư ng tích nhẹ.

Sau khi tai nạn xảy ra ông Lai T bị thư ng nặng được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Chợ Rẩy, thành phố Hồ Chí Minh để điều trị đến ngày 18/02/2018 do vết thư ng quá nặng không thể cứu chữa nên gia đình xin xuất viện về nhà đến khoảng 03 giờ 50 phút cùng ngày thì ông Lai T tử vong tại nhà.

Bản giám định pháp y số: 48/KLGĐ(PY) ngày 21/02/2018 c a Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: Nguyên nhân chính dẫn đến ông Lai T tử vong là do chấn thư ng sọ não nặng.

Tại bản án hình sự s thẩm số: 19/2018/HS-ST ngày 26/9/2018 c a Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lê Chí D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 c a Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Chí D 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo Lê Chí D chấp hành án.

Ngoài ra bản án s thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo theo quy định c a pháp luật.

Ngày 09/10/2018, bị cáo Lê Chí D kháng cáo bản án s thẩm với lý do xin giảm nhẹ hình phạt xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Lê Chí D thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án s thẩm thể hiện là đúng. Bị cáo không kháng cáo về nội dung vụ án, bị cáo chỉ kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt xin được hưởng án treo.

-Quan điểm đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh T: Sau khi phân tích các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội và yêu cầu kháng cáo bị cáo Lê Chí D. Vị kiểm sát viên cho rằng án s thẩm xét xử bị cáo Lê Chí D phạm tội “Vi phạm quy định về tham ia iao thôn đườn bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Về hình phạt cấp s thẩm xét xử bị cáo 01 năm tù là c căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy sau khi tai nạn xảy ra bị cáo cùng với gia đình tích cực khắc phục cho gia đình người bị hại được số tiền 110.000.000đồng, bản thân bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phư ng, bị cáo c n i cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đ không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội c ng đ để giáo dục bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo c a bị cáo, sửa bản án s thẩm áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đ n kháng cáo c a bị cáo Lê Chí D là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo c a bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người c đầy đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Khi bị cáo điều khiển xe ôtô biển số 84H9- 8129 là nguồn nguy hiểm cao độ tham gia giao thông, khi bị cáo phát hiện anh T đang đứng bên lề phải theo hướng đi c a bị cáo chuẩn bị đi qua đường nhưng bị cáo không giảm tốc độ để nhường đường cho người đi bộ qua đường mà tránh sang lề trái đường để tránh bị hại tiếp tục đi và va chạm vào bị hại gây ra cái chết cho người bị hại anh Lai T mà lẽ ra bị cáo phải tránh sang lề phải theo hướng đi để nhường đường. Mặc dù,người bị hại trong vụ án này c ng c một phần lỗi khi qua đường không đảm bảo an toàn, Tòa án cấp s thẩm xác định người bị hại trong vụ án này không c lỗi là chưa đảm bảo tính khách quan c a vụ án, vì theo khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định “Trường hợp không c đèn tín hiệu, không c vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì người đi bộ phải quan sát các xe đang đi tới, chỉ qua đường khi bảo đảm an toàn và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường” nhưng nguyên nhân chính trong vụ án này là lỗi c a bị cáo. Do đ , Tòa án cấp s thẩm quy kết bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia iao thôn đườn bộ” theo điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là c căn cứ, đúng quy định c a pháp luật. Xét thấy, mức án 01 (một) năm tù mà Tòa án cấp s thẩm áp dụng đối với bị cáo Lê Chí D là c căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy sau khi tai nạn xảy ra bị cáo cùng với gia đình tích cực khắc phục hậu quả được số tiền 110.000.000 đồng, bản thân luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phư ng, c n i cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hoàn cảnh gia đình kh khăn, vợ bị cáo đang sinh con nhỏ, người đại diện cho bị hại c ng đã tự thỏa thuận mức bồi thường không còn yêu cầu gì và c đ n xin bãi nại tha thiết yêu cầu không khởi tố đối với bị cáo. Do đ , xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội c ng đ để giáo dục bị cáo. Từ đ , Hội đồng xét xử c căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo c a bị cáo, sửa bản án s thẩm áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo hưởng án treo như đề nghị c a vị đại diện Viện Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại phiên tòa hôm nay.

Về án phí: Bị cáo Lê Chí D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

U T ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo c a bị cáo Lê Chí D.

Sửa bản án hình sự s thẩm số: 19/2018/HS-ST, ngày 26/9/2018 c a Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T.

Tuyên bố bị cáo Lê Chí D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thôn đườn bộ”.

Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 c a Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Chí D 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Lê Chí D cho Ủy ban nhân dân xã L, thị xã D, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phư ng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi n i cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 c a Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định c a Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án c thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù c a bản án đã cho hưởng án treo.

Các quyết định khác c a bản án s thẩm không c kháng cáo, không bị kháng nghị đã c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ