- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tâm - Hiệp"
- Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân xử: Chị Nguyễn Thị Tâm ly hôn với anh Trần Văn Hiệp.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 54/2018/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 9 - 2018 V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Bà Phạm Thị Bích Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Lê Chân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 253/2018/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp về ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tâm; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 6 ngách 72/732 Nguyễn Văn Linh, phường Niệm Nghĩa, Quận Lê Chân, Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Văn Hiệp; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 6 ngách 72/732 Nguyễn Văn Linh, phường Niệm Nghĩa, Quận Lê Chân, Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tâm trình bày: Chị và anh Trần Văn Hiệp xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đa Phúc, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng vào năm 2001; đến nay vợ chồng có 02 con chung là Trần Thị Thu Trang sinh ngày 02/3/2001 và Trần Gia Huy sinh ngày 01/5/2010.
Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc nhưng đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống, anh Hiệp chơi bời cờ bạc thường xuyên đi sớm về khuya không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Mâu thuẫn của hai vợ chồng đã được hai bên gia đình, chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Từ năm 2017 vợ chồng sống ly thân không ai còn quan tâm đến ai. Nay chị Tâm xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hiệp.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Thị Thu Trang sinh ngày 02/3/2001 và Trần Gia Huy sinh ngày 01/5/2010. Ly hôn, chị Tâm nhận nuôi cả hai cháu đến khi trưởng thành. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Tâm nhận nộp cả án phí ly hôn sơ thẩm.
Tại trung tâm hòa giải anh Hiệp trình bầy: Anh đồng ý với lời trình bày của chị Tâm về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn cũng như quá trình chung sống, về con chung và tài sản chung. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. các buổi làm việc, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Trần Văn Hiệp vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng. Theo tài liệu thu thập được thì anh Hiệp biết việc chị Tâm có đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận Lê Chân anh Hiệp nhận các văn bản tố tụng, nhưng anh không đến Tòa án làm việc.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tại phiên tòa: Những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà theo các quy định tại Điều 70, Điều 71 BLTTDS; bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà theo các quy định tại Điều 70, Điều 72 BLTTDS. Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xin ly hôn. Giao cháu Trần Thị Thu Trang sinh ngày 02/3/2001 và Trần Gia Huy sinh ngày 01/5/2010 cho chị Tâm trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét. Về án phí: Chị Tâm phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bầy tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Tâm có đơn khởi kiện xin ly hôn anh Trần Văn Hiệp. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tâm và anh Trần Văn Hiệp xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đa Phúc, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng vào năm 2001. Do vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Tâm và anh Hiệp là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống, anh Hiệp chơi bời cờ bạc thường xuyên đi sớm về khuya không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Mâu thuẫn vợ chồng được gia đình, chính quyền địa phương nhiều lần khuyên giải nhưng quan hệ vợ chồng không cải thiện được. Từ cuối năm 2017 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa. Anh Hiệp vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do là tự tước bỏ quyền lợi của mình trước tòa, đồng thời thể hiện anh Hiệp không có thiện chí hoà giải để vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Tâm và anh Hiệp đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị Tâm đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ cần chấp nhận.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Trần Thị Thu Trang sinh ngày 02/3/2001 và Trần Gia Huy sinh ngày 01/5/2010. Xét nguyện vọng, yêu cầu của chị Tâm và để đảm bảo cuộc sống ổn định cho các cháu nên cần giao 02 con chung là Trần Thị Thu Trang sinh ngày 02/3/2001 và Trần Gia Huy sinh ngày 01/5/2010 cho chị Tâm nuôi dưỡng đến khi con thành niên là phù hợp. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Tâm phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1/ Về quan hệ hôn nhân xử: Chị Nguyễn Thị Tâm ly hôn với anh Trần Văn Hiệp.
2/ Về con chung: Giao con chung Trần Gia Huy sinh ngày 01/5/2010 và Trần Thị Thu Trang sinh ngày 02/3/2001 cho chị Tâm trực tiếp nuôi dưỡng, đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị Tâm không yêu cầu Tòa án giải quyết, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3/ Về án phí: Chị Tâm phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Số tiền này chị Tâm đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân theo biên lai thu tiền số 0005243 ngày 28 tháng 5 năm 2018.
Chị Tâm được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hiệp được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các bên đương sự; - VKSND Quận Lê Chân; - VKSND TP Hải Phòng; - TAND TP Hải Phòng; - Chi cục THADS Quận Lê Chân; - UBND p. Đằng Lâm, Hải An, Hải Phòng; - Lưu: VT, Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Văn Thường |