- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyênbố: Bị cáoPhanDuy H phạm tội “ Muabántráiphépchất matúy”.
- Căn cứ chính? Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 3 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ______________ Bản sán số:54/2017/HSST Ngày 29 tháng 11 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Túc
2. Bà Nguyễn Thị Hồng
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Huy- Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Nam- Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2017/HSST ngày 10 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:
Phan Duy H, sinh năm 1988; trú tại: thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/12; con ông Phan T, sinh năm 1954 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1955; vợ, con: chưa có; tiền sự: không.
Tiền án: Có 02 tiền án. Cụ thể:
Tại Bản án số 119/2012/HSST ngày 28/9/2012 bị Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù ngày 09/5/2014. Sau đó, Hiển tiếp tục phạm tội mới.
Tại Bản án số 123/2014/HSST ngày 15/10/2014 bị Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 32 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự ( Trị giá tài sản bị xâm phạm 16.980.000đ). Bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù ngày 16/12/2016. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2017 đến nay, (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phan Hiển D, sinh năm 1992, (có mặt)
Trú tại: thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc
2.Anh Lê Duy H, sinh năm 1982, (vắng mặt)
Trú tại: Thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00’ ngày 02/8/2017, Phan Duy H đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Lê Duy H hỏi mua 500.000đ ma túy đá (Methamphetamine) để sử dụng. H đồng ý bán và hẹn gặp H tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa xã Lãng Công. Sau đó, H ra khu vực ngã tư thị trấn L thuê anh Nguyễn Văn T làm nghề xe ôm chở lên khu vực cổng Bệnh viện đa khoa xã L. Khoảng 10 giờ 05 phút cùng ngày, H một mình điều khiển xe máy BKS 88S9-3741 đi đến điểm hẹn với H. Tại đây H đưa cho H số tiền 500.000đ (gồm 02 tờ tiền polime mệnh giá 200.000đ và 01 tờ tiền polime mệnh giá 100.000đ). H cầm tiền bán cho 01 gói ma túy đá (Methamphetamine) gói bằng giấy trắng, đúc trong túi ni lông màu trắng. Ngay lúc này thì bị lực lượng Công an tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra, phát hiện, H đã ném số tiền 500.000đ có được từ việc bán ma túy cho H xuống nền đường đất. Công an tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ trong túi quần bên phải đang mặc của H 01 túi nilon nhỏ màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng đá. H khai nhận đó là gói ma túy đá vừa mua được của H với giá 500.000đ, được niêm phong trong phong bì kí hiệu A1; thu giữ tại túi áo trước ngực của H 01 mảnh giấy trắng có kích thước 3 cm x6cm trong mảnh giấy có ghi các số 211, 301, 887. Thu giữ tại nền đường gần vị trí H đứng số tiền 500.000đ (gồm 02 tờ tiền polime mệnh giá 200.000đ và 01 tờ tiền polime mệnh giá 100.000đ). H khai nhận đây là tiền do bán ma túy cho H mà có. Ngoài ra còn thu giữ của H số tiền 600.000đ (gồm 01 tờ tiền polime mệnh giá 500.000đ và 02 tờ tiền polime mệnh giá 50.000đ). 01 điện thoại di động nhãn hiệu GOLY G309 vỏ màu đen vàng, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Viettel vỏ màu đỏ đen và 01 xe máy Yamaha Sirius, sơn màu đen trắng, BKS: 88S9-3741 đã cũ.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật, tài sản của Phan Duy H. Quá trình khám xét đã thu giữ tại đầu giường ngủ của Phan Duy H 01 túi nilon nhỏ màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể dạng đá, niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A2; 01 túi nilon nhỏ màu trắng bên trong có 03 viên nén màu hồng trên mặt có in chữ “WY”, niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A3.
Tại bản kết luật giám định số 836/KLGĐ ngày 08/8/2017, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kết luận: Trọng lượng Methamphetamine có trong mẫu ký hiệu A1 là 0,0886 gam. Trọng lượng Methamphetamine có trong mẫu ký hiệu A2 là 0,1646 gam. Trọng lượng Methamphetamine có trong mẫu ký hiệu A3 là 0,0375 gam. Methamphetamin là chất ma túy nằm trong Danh mục II, TT 67 Nghị định số 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Cơ quan giám định hoàn lại mẫu giám định gồm A1 = 0,0674g, A2 = 0,0680g, A3 = 0,0669g mẫu và toàn bộ bao gói.
Tại Cơ quan điều tra, Phan Duy H đã thành khẩn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như nêu trên và khai nhận nguồn gốc số ma túy H bán cho H ngày 02/8/2017 và gói ma túy thu giữ (trong mẫu ký hiệu A2) là do Hiển mua của người đàn ông tên H ở thị trấn L, huyện L. Ngoài ra, H còn khai nhận nguồn gốc 03 viên ma túy đá màu hồng trên mặt có in chữ “WY” là do một người không rõ tên tuổi, địa chỉ cho H ở Hà Nội. Do H không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của hai người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô không xác minh làm rõ được .
Đối với Lê Duy H là người nghiện chất ma túy, mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân, lượng ma túy nhỏ, chưa có tiền án về các tội ma túy nên Công an huyện Sông Lô đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với Nguyễn Văn T là người làm nghề xe ôm đã chở H đi lên xã L, huyện S ngày 02/8/2017 nhưng không biết việc H đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với chiếc điện thoại H dùng để liên lạc với H để mua ma túy. H khai nhận chiếc điện thoại này do H mượn của một người đi đường nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Vật chứng vụ án:
Thu giữ trọng lượng Methamphetamine trong các mẫu ký hiệu A1 là 0,0886 gam, A2 là 0,1646 gam, A3 là 0,0375 gam. Cơ quan giám định hoàn lại mẫu giám định gồm A1 = 0,0674g, A2 = 0,0680g, A3 = 0,0669g mẫu và toàn bộ bao gói. Số tiền 500.000đ là tiền H bán trái phép chất ma túy cho H mà có. 02 điện thoại di động thu giữ của H, trong đó 01 chiếc nhãn hiệu GOLY G309 H dùng để liên lạc bán trái phép chất ma túy với H. 01 mảnh giấy trắng kích thước 03 cm x06cm, trong mảnh giấy có ghi các số 211, 301, 887. Số tiền 600.000đ (gồm 01 tờ tiền polime mệnh giá 500.000đ, 02 tờ tiền polime mệnh giá 50.000đ) thu giữ của H. Quá trình điều tra xác định là tiền của H, không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy. 01 xe máy Yamaha Sirius, sơn màu đen trắng, BKS: 88S9-3741, đã cũ thu giữ của H. Quá trình điều tra, xác minh xác định được chủ sở hữu hợp pháp là anh Phan Hiển D. Ngày 02/8/2017, anh D không biết việc H sử dụng chiếc xe máy trên để bán ma túy.
Qúa trình điều tra, bị cáo Phan Duy H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số: 49/KSĐT- MT ngày 09 tháng 11 năm 2017 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô truy tố bị cáo Phan Duy H về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với bị cáo Phan Duy H. Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm p khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định gồm A1= 0,0674g; A2= 0,0680g, A3= 0,0669g mẫu cùng toàn bộ bao gói; 01 mảnh giấy trắng kích thước 03x06cm, trong mảnh giấy có ghi các số 211, 301, 887.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000đ là tiền Phan Duy H bán ma túy trái phép mà có.
Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GOLY G309 vỏ màu đen vàng thu giữ của Phan Duy H.
Trả lại 01 chiếc xe máy Yamaha Sirius, sơn màu đen trắng, BKS: 88S9-3741 cho anh Phan Hiển D.
Trả lại cho Phan Duy H số tiền 600.000đ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel vỏ màu đỏ đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Phan Duy H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Để có tiền mua ma túy sử dụng cho bản thân nên Phan Duy H đã mua ma túy (Methamphetamine) về chia nhỏ bán kiếm lời. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/8/2017 tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, H bán 01 gói ma túy (Methamphetamine) có trọng lượng 0,0886gam cho Lê Duy H với giá 500.000đ thì bị lực lượng Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắ t quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phan Duy H còn thu giữ tại đầu giường ngủ của Phan Duy H 01 gói ma túy (Methamphetamine) có trọng lượng 0,1646g; 01 túi nilon nhỏ màu trắng bên trong có 03 viên nén màu hồng có chất ma túy Methamphetamine có trọng lượng 0,0375g. H khai nhận số ma túy này H cất giấu để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời.
Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai, bản kiểm điểm, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập theo trình tự của Bộ luật tố tụng hình sự được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo H như trên đã cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự quy định:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
…
p) Tái phạm nguy hiểm”…
Do đó bản cáo trạng số: 49/KSĐT-MT, ngày 09/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Phan Duy H về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy là chất độc dược hủy hoại sức khỏe con người và gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết xem xét giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng: Xét về nhân thân bị cáo đã có hai tiền án về tội trộm cắp tài sản không lấy đó làm bài học mà lại phạm tội mới. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 tại Điều 46 Bộ luật hình sự. Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần xử phạt tù cách ly bị cáo một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo chở thành người công dân tốt, luôn có ý thức chấp hành pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không
có thu nhập, kinh tế ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Lê Duy H là người nghiện chất ma túy, mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân, lượng ma túy nhỏ, chưa có tiền án về các tội ma túy nên Công an huyện Sông Lô đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định gồm A1= 0,0674g; A2= 0,0680g, A3= 0,0669g mẫu cùng toàn bộ bao gói; 01 mảnh giấy trắng kích thước 03x06cm, trong mảnh giấy có ghi các số 211, 301, 887. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000đ là tiền Phan Duy H bán ma túy trái phép mà có. Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GOLY G309 vỏ màu đen vàng thu giữ của Phan Duy H . Trả lại 01 chiếc xe máy Yamaha Sirius, sơn màu đen trắng, BKS: 88S9-3741 cho anh Phan Hiển D. Trả lại cho Phan Duy H số tiền 600.000đ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel vỏ màu đỏ đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Phan Duy H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyênbố: Bị cáoPhanDuy H phạm tội “ Muabántráiphépchất matúy”.
Ápdụng: điểm pkhoản 2 Điều194,điểm pkhoản1 Điều46Bộluậthìnhsự.
Xử phạt: Bị cáo Phan Duy H 07 ( bảy ) năm 06 (sáu ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/8/2017.
2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định gồm A1= 0,0674g; A2= 0,0680g, A3= 0,0669g mẫu cùng toàn bộ bao gói; 01 mảnh giấy trắng kích thước 03x06cm, trong mảnh giấy có ghi các số 211, 301, 887. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000đ là tiền Phan Duy H bán ma túy trái phép mà có. Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GOLY G309 vỏ màu đen vàng thu giữ của Phan Duy H. Trả lại 01 chiếc xe máy Yamaha Sirius, sơn màu đen trắng, BKS: 88S9-3741 cho anh Phan Hiển D. Trả lại cho Phan Duy H số tiền 600.000đ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel vỏ màu đỏ đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (có đặc điểm như biên bản thu giữ).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Bị cáo Phan Duy H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết tại Uỷ ban nhân dân nơi cư trú của người vắng mặt.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Viện kiểm sátnhân dân huyện Sông lô; -Chi cụcThihành ánhuyệnSông Lô; -Công anhuyệnSông Lô; -Uỷ ban nhândânxã Lãng Công ; -Bị cáo; -Ngườicó quyền lợi nghĩa vụ liên quan ; -Lưu: hồsơ,án văn.. | Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà (đã ký tên và đóng dấu) Trần Thị Huệ |