vanban.org

Bản án 54/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo: Mai Xuân Ch, Nguyễn Văn Á và Nguyễn Văn X phạm tội “Đánh bạc”;

Xử phạt bị cáo Mai Xuân Ch 6 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Á 6 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Xuân Ch và đồng bọn phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Mai Xuân Ch, Nguyễn Văn Á và Nguyễn Văn X phạm tội “Đánh bạc”;
  • Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 30 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N C
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54 /2017/HSST
Ngày 29/12/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N C, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Thị Thu

2. Bà Lê Thị Dệt

Thư ký phiên tòa: Bà Doãn Phương Liên - Thư ký TAND huyện N C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N C tham gia phiên tòa:

Ông Lê Đức Thảo - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 12 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N C xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 54/2017/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

1. Mai Xuân Ch, sinh ngày 27/9/1985; trú tại: Thôn Ng Th, xã T L, huyện N C, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa lớp 12/12; con ông: Mai Xuân Tr và bà: Nguyễn Thị M; có vợ là Nguyễn Thị S ( đã ly hôn)và 2 con lớn nhất 2010, nhỏ nhất sinh năm 2012; không tiền án, tiền sự;

Bị bắt tạm giữ ngày 15/8/2017 đến ngày 21/8/2017 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn Á, sinh ngày 02/6/1990; trú tại: Thôn 5, xã T S, huyện N C, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa lớp 5/12; con ông: Nguyễn Văn Đ và bà: Nguyễn Thị L; có vợ là Nguyễn Thị Th và 1 con sinh năm 2015; không tiền án, tiền sự; Bị bắt tạm giữ ngày 15/8/2017 đến ngày 21/8/2017 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Văn X, sinh ngày 27/9/1964; trú tại: Thôn 12, xã T S, huyện N C, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa lớp 4/10; con ông: Nguyễn Văn Th và bà: Thân Thị V; có vợ là Trương Thị V và 2 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1993; không tiền án, tiền sự;

Bị bắt tạm giữ ngày 15/8/2017 đến ngày 21/8/2017 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện N C truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 15/8/2017 nhận được tin báo của quần chúng nhân dân cho biết: Tại nhà Nguyễn Văn X thuộc thôn 12 xã T S có 1 số đối tượng đang tổ chức đánh bạc. Tổ công tác của đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an huyện NC đã kiểm tra và phát hiện các đối tượng Nguyễn Văn Á, Mai Xuân Ch, Thân Trọng T đang đánh bạc được thua bằng tiền tại gian phòng khách của Nguyễn Văn X. Kiểm tra tại vị trí ngồi của T có 4.000.000đ, tại vị trí ngồi của Ch 1.900.000đ, tại vị trí ngồi của Á 2.400.000đ. Thu bên ngoài chiếu 200.000đ, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ tổng cộng số tiền là 8.500.000đ, 36 lá bài tú lơ khơ trong bộ bài tú lơ khơ 52 cây, 1 chiếc chiếu cói màu nâu đã qua sử dụng. Trong quá trình lập biên bản phạm tội quả tang T đã bỏ chạy. Tổ công tác tiến hành truy đuổi nhưng do trời tối nên không bắt lại được. Còn X, Á, Ch đưa về cơ quan CSĐT Công an huyện N C để tiếp tục điều tra làm rõ.

Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận: Vào khoảng 20 giờ ngày 15/8/2017 Thân Trọng T đến nhà Nguyễn Văn X uống nước. Một lúc sau có Nguyễn Văn Á, Mai Xuân Ch cùng đến ngồi uống nước. Trong lúc ngồi uống nước T xin X được đánh bài, nhưng X không đồng ý. Sau đó tiếp tục xin thì X đồng ý và nói: “đánh đến 23 giờ thì nghỉ để tao đi ngủ”. Được sự đồng ý của X cả 3 đi vào gian khách nhà X thì thấy có chiếc chiếu ngồi ăn cơm đã trải từ trước nên T, Á, Ch ngồi xuống và thống nhất đánh Tam – Bát - Cửu. Cách đánh như sau: Lấy 36 cây trong bộ bài tú lơ khơ chia cho mỗi người 3 cây, “3 cây cộng điểm”. Sau khi chia bài xong mỗi người bỏ ra 50.000đ, không quy định xuống chân bao nhiêu tiền. Ai có bao nhiêu thì đánh bấy nhiêu, trắng cửa thấp nhất là 50.000đ. Sau đó tính điểm, ai cao điểm nhất thì được lấy số tiền bỏ ra dưới chiếu. Cứ như vậy các đối tượng đánh đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì bị bắt quả tang.

Các đối tượng đã khai nhận Nguyễn Văn Á mang đi 1.150.000đ, Mai Xuân Ch mang đi 1.900.000đ. Số còn lại là của T. Như vậy, tổng cộng số tiền là 8.500.000đ dùng vào mục đích đánh bạc. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được.

Vật chứng thu giữ gồm: Tiền ngân hàng Nhà nước Việt nam 8.500.000đ; 36 lá bài trong bộ bài tú lơ khơ 52 cây; 1 chiếu cói màu nâu đã qua sử dụng. Hiện tại vật chứng đã được chuyển đến Chi cục THADS huyện N C chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số55/CTr-VKS ngày 27/11/2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện N C truy tố các bị cáo Nguyễn Văn X, Mai Xuân Ch và Nguyễn Văn Á về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo đó thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và căn cứ vào Khoản 1 Điều 248 BLHS đề nghị tuyên các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng điểm h, p Khoản 1 Điều 46, Điều 53, Điều 60, Điều 31 BLHS đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo X phạt tiền từ 9.000.000đ đến 10.000.000đ. Bị cáo Ch, bị cáo Á từ 6 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng; Tịch thu sung quỹ nhà nước 8.500.000đ, tịch thu tiêu hủy bộ bài và chiếc chiếu. Áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Ch, bị cáo Á từ 4 đến 5.000.000đ. Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

XÉT THẤY

Tại phiên các bị cáo khai nhận vào tối ngày 15/8/2017 các bị cáo Ch, bị cáo Á cùng đối tượng Thân Trọng T đã đánh bài ăn tiền tại gia đình bị cáo X thôn 12 xã T S huyện N C. Tổng số tiền đánh bạc bị thu giữ là 8.500.000đ. Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở chứng minh các bị cáo Ch, Á phạm tội đánh bạc. Đối với bị cáo X không thực hiện hành vi đánh bạc, nhưng cho các đối tượng đánh bạc tại nhà của mình, các dụng cụ đánh bạc đều lấy từ gia đình bị cáo X. Hành vi của bị cáo X chứa bạc (3 người) quy mô nhỏ chưa cấu thành tội phạm độc lập “Tổ chức đánh bạc” nên xác định bị cáo là người đồng phạm với các bị cáo đánh bạc.

Hành vi của các bị cáo đó phạm vào Khoản 1 điều 248 BLHS. Như vậy VKSND huyện N C truy tố các bị cáo theo tội danh trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi đánh bạc là sự sát phạt nhau về tài chính của mỗi cá nhân, có người thắng người thua. Hành vi này ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế và đời sống gia đình các bị cáo, xâm phạm nếp sống văn minh, làm mất trật tự trị an. Hành vi đánh bạc là tệ nạn xã hội, là nguồn gốc nảy sinh các hành vi vi phạm pháp luật khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để trừng trị, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe, phòng ngừa chung.

Đánh giá tính chất đồng phạm là hình thức đồng phạm giản đơn, có thông mưu trước. Xác định vai trò những người đồng phạm như sau: Bị cáo Ch, bị cáo Á là người thực hiện hành vi đánh bạc, có vai trò thứ nhất. Bị cáo X là người giúp sức tạo điều kiện cho con bạc thực hiện hành vi phạm tội nên xếp ở vị trí thứ hai.

Xét các tình tiết khác: Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, bị cáo X thể hiện sự ăn năn, ân hận về hành vi của mình.

Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, tính chất đồng phạm, vai trò từng bị cáo xét thấy cần phân hóa hình phạt như sau: Cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo Ch, bị cáo Á nhưng cho hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương phù hợp. Tuy nhiên, cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung mức khởi điểm đối với 2 bị cáo này. Đối với bị cáo X có vai trò thứ yếu nên áp dụng hình thức phạt tiền là phù hợp.

Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền đánh bạc, tịch thu tiêu hủy cỗ bài và chiếc chiếu dùng để ngồi đánh bạc.

Về án phí: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí HSST.

Từ những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo: Mai Xuân Ch, Nguyễn Văn Á và Nguyễn Văn X phạm tội “Đánh bạc”;

Áp dụng Khoản 1, Khoản 3 Điều 248; Điểm h, p Khoản 1 Điều 46; Điều 53; Điều 33 và điều 60 BLHS:

Xử phạt bị cáo Mai Xuân Ch 6 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Á 6 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bổ sung các bị cáo Ch, Á mỗi người 3.000.000đ nộp 1 lần.

Áp dụng Khoản 1 Điều 248; Điểm h, p Khoản 1 Điều 46; Điều 53; Điều 30 BLHS:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn X 6.000.000đ( sáu triệu) Nộp một lần.

Giao bị cáo Chinh cho UBND xã T L, huyện N C, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao các bị cáo Ánh cho UBND xã T S, huyện N C, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Về vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 76 BLTTHS:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 8.500.000đ. Tịch thu, tiêu huỷ: 1 bộ bài tú lơ khơ 36 cây, 1 chiếu cói màu nâu đã qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng điều 99 BLTTHS ; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Khoản 1 điều I Mục A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị Quyết.

Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.

Sau khi án có hiệu lực pháp luật và cơ quan Thi hành án ra quyết định thi hành án nếu người phải thi hành án không nộp đủ tiền phải thi hành thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi xuất quy định tại điều 357 BLDS, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./ Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án tỉnh Thanh Hoá;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKS huyện NC ;

- Chi cục thi hành án DS N/C;

- Công an huyện N C;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ.

Phạm Hữu Thắng

héi ®ång xÐt xö

Héi thÈm nh©n d©n

ThÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ Lª ThÞ DÖt

§ç ThÞ Thu

Ph¹m H÷u Th¾ng

Cỡ chữ