vanban.org

Bản án 54/2017/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 29/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Phạm Thị L (tên gọi khác: Lan) phạm tội “Mua"bán"trái"phép" chất"ma"túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị L 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/7/2017. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự; căn cứ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Liễu - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Phạm Thị L (tên gọi khác: Lan) phạm tội “Mua"bán"trái"phép" chất"ma"túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ P
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2017/HS-ST
Ngày: 29-9-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ P, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông và bà Nguyễn Hải Đường.

-"Thư"ký"phiên"tòa: Ông Lương Quốc Chương - Thư ký Tòa án nhân dân Thị

xã P, tỉnh Đắk Nông.

-" Đại" diện" Viện" kiểm" sát" nhân" dân" Thị" xã" P," tỉnh" Đắk" Nông" tham" gia"

phiên"tòa: Ông Phan Xuân Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Uỷ ban nhân dân phường N, Thị xã P, tỉnh Đăk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2017/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2017/HSST-QĐ ngày 18 tháng 9 năm 2017, đối với bị cáo:

Phạm Thị L (tên gọi khác: L), sinh năm 1975, tại tỉnh Quảng N; nơi ĐKHKTT: Thôn 4, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; chỗ ở hiện nay: Tổ 1, phường N, Thị xã P, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Phạm Đình T và con bà Nguyễn Thị L1; bị cáo không có chồng và có 02 con; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2017 đến nay; bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 03/7/2017, N rủ H cùng mua ma túy sử dụng thì H đồng ý. N điều khiển xe mô tô chở H đến quán cà phê “Vườn địa đàng” của Phạm Thị L ở tổ 1, phường N để mua ma túy. Đến nơi, N đứng ngoài chờ, còn H một mình đi vào quán cà phê. Gặp L đang ngồi trên ghế đá ở góc sân, thì H nói “Chị ơi bán cho em một cái” (Ý nói L bán cho H một tép ma túy), L hỏi “bao nhiêu”, H trả lời “Em còn hai trăm mấy à” rồi H đưa cho L 230.000 đồng (Số tiền này do N đưa cho H). L cầm tiền rồi lấy một tép ma túy được dấu trong cây chổi quét nhà, để sau ghế đá đưa cho H. Sau khi mua được ma túy, H và N điều khiển xe về hướng Đồi Pháo để sử dụng, khi đi đến khu vực gần quán heo quay Xứ Lạng, thuộc tổ 1, phường N thì bị Công an Thị xã P kiểm tra hành chính, phát hiện và thu giữ trên người N 01 tép ma túy, trên người H số tiền 50.000 đồng.

1

Tại Cơ quan điều tra, H và N khai nhận: Ngoài lần mua ma túy nói trên, trước đó vào khoảng 08 giờ cùng ngày, N và H còn cùng nhau góp tiền (N góp 150.000 đồng, H góp 100.000 đồng) mua của L một tép ma túy với giá 250.000 đồng về sử dụng hết.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của L tại tổ 1, phường N, Cơ quan điều tra thu giữ: 53 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột trắng; 57 mảnh nylon màu trắng bị cắt nhỏ, kích thước 03x 03cm; tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 659.000 đồng; 01 Chứng minh nhân dân số 245013633 mang tên Phạm Thị L, do Công an tỉnh Đắk Nông cấp ngày 18/9/2014.

Quá trình điều tra L khai nhận số ma túy đựng trong 53 gói giấy bạc màu trắng do L mua của 02 đối tượng (không rõ nhân thân, lý lịch) ở xã Quảng Khê, huyện Đ vào khoảng giữa tháng 6/2017 với giá 10.000.000 đồng, mục đích mua để bán lại cho các đối tượng nghiện kiếm lời. Trong đó, L đã 02 lần bán ma túy Hêrôin cho N và H như đã nêu trên. Ngoài ra, L còn bán 03 tép ma túy cho 03 đối tượng N (Không rõ nhân thân, lai lịch) trên địa bàn Thị xã P với giá 740.000 đồng. Số tiền có được do bán ma túy L đã dùng một phần để trả nợ, trong đó trả nợ cho chị Tô Thị Diễm T, trú tại tổ 1, phường Đ 700.000 đồng. Ngày 17/8/2017 chị T đã tự nguyện giao nộp số tiền trên cho Cơ quan điều tra.

Như vậy tổng số tiền thu giữ của L là 1.359.000 đồng (Trong đó tiền bán ma túy là 480.000 đồng, tiền chị Tuyết giao nộp là 700.000 đồng; tiền thu của L 179.000 đồng).

Vật chứng của vụ án:

- Thu giữ của Nguyễn Văn N: 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột trắng (Được niêm phong trong gói niêm phong số 01)."

- Thu giữ của Phạm Thị L:

+ 53 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng (Được niêm phong trong gói niêm phong số 02)

+ Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 480.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định số 47/PC54, ngày 11/7/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận:

- Mẫu chất rắn trong bì thư thứ nhất giám định là chất ma túy, là Hêrôin. Trọng lượng là 0,0588 gam; Mẫu chất rắn trong bì thư thứ hai giám định là chất ma túy, là Hêrôin. Trọng lượng là: 4,1625 gam. Tổng trọng lượng ma túy trong hai bì thư là 4,2213 gam.

- Hoàn trả đối tượng gửi giám định gồm: Mẫu chất rắn trong bì thư thứ nhất còn lại sau giám định là 0,0152 gam; Mẫu chất rắn trong bì thư thứ hai còn lại sau giám định là 3,5145 gam (mẫu vật đều được niêm phong). Tổng trọng lượng 3,5297 gam.

Đối với số tiền còn lại 1.220.000 đồng (trong đó 480.000 đồng là vật chứng của vụ án, 740.000 đồng là tiền của Phạm Thị L) Cơ quan điều tra đã gửi vào tài khoản tạm gửi của Công an Thị xã P tại Kho bạc tỉnh Đắk Nông.

2

Tại bản cáo trạng số 51/CTr-VKS ngày 13/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã P, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Phạm Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã P kết luận: Bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194, điểm o, p khoản 1 Điều 46, Điều 33 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Thị L từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự; căn cứ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 3,5297 gam ma túy là mẫu vật hoàn trả sau giám định (đã được niêm phong).

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 480.000 đồng do Phạm Thị L mua bán trái phép ma túy mà có.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 740.000 đồng của Phạm Thị L để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị L không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 03/7/2017, tại tổ 1, phường N, Thị xã P; Phạm Thị L đã 02 lần bán ma túy cho Võ Minh H và Nguyễn Văn N với tổng số tiền là 480.000 đồng; trọng lượng ma túy thu giữ được trong 02 lần này là 0,0588 gam. Quá trình mở rộng điều tra phát hiện tại nơi ở của L còn tàng trữ 53 gói ma túy Hêrôin, trọng lượng 4,1625 gam, mục đích tàng trữ là để bán kiếm lời. Tổng trọng lượng ma túy L dùng để bán là 4,2213 gam. Vì vậy, có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

…..

b) Phạm tội nhiều lần;

…

3

Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà Nước về quản lý các chất ma tuý; gây ảnh hưởng rất xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo nhận thức được nhà nước nghiêm cấm và pháp luật trừng trị rất nghiêm khắc đối với những hành vi mua bán trái phép chất ma tuý cũng như những tác hại, hậu qủa của nó. Nhưng do lối sống buông thả vì động cơ cá nhân hám lợi và ý thức xem thường pháp luật của nhà nước nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần, cho nhiều người. Hậu qủa do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, gây tác hại rất xấu cho xã hội về nhiều mặt. Bị cáo phạm tội nhiều lần là tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc thì mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tự khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy được xem là tình tiết tự thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự, để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Trong vụ án này còn có Võ Minh H và Nguyễn Văn N là các đối tượng đã mua ma túy của Phạm Thị L về sử dụng nên không xử lý hình sự; chuyển xử lý hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 02 đối tượng bán ma túy cho Phạm Thị L và 03 người đàn ông mà L đã bán ma túy cho, chưa xác minh được nhân thân lai lịch. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thị xã P tiếp tục điều tra, xác minh khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

! Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự; căn cứ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 3,5297 gam ma túy là mẫu vật hoàn trả sau giám định (đã được niêm phong).

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 480.000 đồng do Phạm Thị L mua bán trái phép ma túy mà có.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 740.000 đồng của Phạm Thị L để đảm bảo thi hành án.

Về"án"phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Phạm Thị L (tên gọi khác: Lan) phạm tội “Mua"bán"trái"phép" chất"ma"túy”.

4

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194, điểm o, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị L 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/7/2017.

2. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự; căn cứ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 3,5297 gam ma túy là mẫu vật hoàn trả sau giám định (đã được niêm phong).

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 480.000 đồng do Phạm Thị L mua bán trái phép ma túy mà có.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 740.000 đồng của Phạm Thị L để đảm bảo thi hành án.

3."Về án Phí: Áp dụng Điều 98, Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 22 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Thị L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ