vanban.org

Bản án 54/2017/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 07/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vừ Bả S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vừ Bả S - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vừ Bả S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2017/HS-ST
Ngày 07 - 3 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Hữu Anh

Bà Nguyễn Thị Khánh Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Cầm Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2018/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Vừ Bả S; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1969 tại S, Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vừ Sáy L1 (đã chết) và bà Lầu Thị Ch; có vợ là Lầu Thị L2 và có 07 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Minh H, Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư T- Đoàn luật sư tỉnh Sơn La, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 00 phút ngày 18/10/2017, tổ công tác Công an huyện S làm nhiệm vụ tại khu vực Km 114, Quốc lộ 4G, thuộc địa phận bản T, xã S, huyện S, tỉnh Sơn la đã phát hiện bắt quả tang Vừ Bả S (trú tại: xã H, huyện M, tỉnh Sơn La) đang có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm 07 túi nilon bên trong chứa các viên nén màu hồng, màu xanh (S khai là Hồng phiến) cùng 01 chiếc điện thoại di động.

Ngày 18/10/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đã thành lập hội đồng mở niêm phong,cân tịnh xác định trọng lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định: 07 túi hồng phiến (1393 viên) có tổng trọng lượng 131,32 gam, trích 7,54 gam, ký hiệu S1, S3, S4, S6, S7, S9, S10, S12, S13, S15, S16, S18, S19, S21 làm mẫu giám định ma túy

Tại Kết luận giám định số 974/KLMT ngày 25/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

Mẫu gửi giám định ký hiệu S1, S3, S4, S6, S7, S9, S10, S12, S13, S15, S16, S18, S19, S21 là chất ma túy; Loại chất Methamphetamine; Tổng trọng lượng mẫu gửi giám định là 7,54 gam. Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ là 131,32 gam; Loại chất Methamphetamine”

Quá trình điều tra Vừ Bả S khai nhận: Sáng ngày 17/10/2017, S đang ở nhà tại bản C, H, M thì có một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đến nhà S. Qua trao đổi, người đàn ông đặt vấn đề bán ma túy cho S, S đồng ý. Người đàn ông lấy trong người ra 07 túi hồng phiến đưa cho S và nói giá 01 túi Hồng phiến là 3.500.000 đồng, tổng cộng 07 túi là 24.500.000 đồng. S cầm ma túy rồi lấy 24.500.000 đồng trả cho người đàn ông. Sau khi mua bán xong, S mang số ma túy mua được cất giấu vào kho ngô của gia đình. Khoảng 08 giờ ngày 18/10/2017, S đến bản K để mua hàng tạp hóa, tại đây S gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, qua nói chuyện, S thỏa thuận bán ma túy cho người đó với giá 4.000.000 đồng/01 túi, tổng 07 túi có giá 28.000.000 đồng, trước khi về hai người cho nhau số điện thoại.

Khoảng 12 giờ cùng ngày, người đàn ông gọi điện cho S bảo mang 07 túi hồng phiến đến bản C, S để giao dịch. S lấy 07 túi hồng phiến cất giấu vào trong người rồi đi nhờ xe của một người không quen biết đến chỗ hẹn. Khi S đến bản C, người đàn ông mua ma túy gọi lại bảo S mang ma túy xuống khu vực bản T. S mang ma túy đến bản T, xã S, huyện S, khi đi đến cuối bản thì bị tổ công tác phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Về nguồn gốc số 131,32 gam Methamphetamine thu giữ trong vụ án, Vừ Bả S khai mua của một người đàn ông Mông không quen biết. Do vậy cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, mở rộng điều tra.

Tại cáo trạng số: 11/CT-VKS ngày 01/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Vừ Bả S về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm e khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Vừ Bả S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Vừ Bả S từ 16 đến 17 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Vừ Bả S: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu vùng xa, trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế, gia đình thuộc diện hộ nghèo, có bố đẻ có công với cách mạng và sau khi bị bắt bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và miễn hình phạt tiền.

Bị cáo Vừ Bả S nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện S, Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

Về hành vi phạm tội của bị cáo Vừ Bả S:

Ngày 18/10/2017, tại khu vực bản T, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La, Vừ Bả S bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép 131,32 gam Methamphetamine, mục đích để bán kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 00 phút ngày 18/10/2017 đối với Vừ Bả S về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Km 114, Quốc lộ 4G, thuộc địa phận bản T, xã S, huyện S. Tại biên bản thể hiện việc Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện trong dây vải màu đen quấn quanh bụng của Vừ Bả S có túi nilon màu đen chứa có 07 túi nilon màu xanh bên trong chứa các viên nén màu hồng, xanh (S khai là Hồng phiến).

Kết luận giám định số 974/KLMT ngày 25/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

Mẫu gửi giám định ký hiệu S1, S3, S4, S6, S7, S9, S10, S12, S13, S15, S16, S18, S19, S21 là chất ma túy; Loại chất Methamphetamine; Tổng trọng lượng mẫu gửi giám định là 7,54 gam. Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ là 131,32 gam; Loại chất Methamphetamine”

- Lời khai nhận tội của bị cáo Vừ Bả S tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án thể hiện việc Vừ Bả S đang đem hồng phiến đi bán kiếm lời.

Từ các căn cứ như đã nêu trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vừ Bả S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Khung hình phạt áp dụng: Bị cáo Vừ Bả S đã có hành vi tàng trữ trái phép 131,32 gam Methamphetamine với mục đích đem bán kiếm lời, đã vi phạm điểm e khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 “Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng t m t tr m gam đến dưới ba tr m gam”, có khung hình phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm.

Ngoài hình phạt chính, bị cáo Vừ Bả S còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Sng, xét hoàn cảnh bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Vừ Bả S thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tai, tệ nạn và các tội phạm khác trong xã hội cần phải có một mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Vừ Bả S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo có bố đẻ có công với cách mạng và thuộc diện hộ nghèo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 123,78 gam loại chất Methamphetamine còn lại sau khi đã giám định, xét đây là loại hàng Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc dây vải màu đen, giấy nilon màu đen mà Vừ Bả S dùng để buộc, gói ma túy không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE thu giữ trong vụ án, xác định đây là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Vừ Bả S thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Chính Phủ (có Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo số 390/GCN-HN.HCN ngày 03/02/2017 của UBND xã H, huyện M, tỉnh Sơn La) nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản tại khoản 5 Điều 11 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 và Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Vừ Bả S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

1. Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194, điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Vừ Bả S 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2017.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếc phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La phát hành, còn nguyên niêm phong mặt trước có ghi: “Vật chứng nhập kho vụ Vừ Bả S – SN 1969. Trú tại: bản Co Mạ, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La; Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 18/10/2017, ký hiệu S2 = 17,72 gam; S5 = 17,84 gam; S8 = 17,68 gam; S11 = 17,55 gam, S14 = 17,51 gam; S17 = 17,63 gam; S20 = 17,85 gam. Tổng trọng lượng = 123,78 gam (nghi là ma túy tổng hợp) và 07 túi nilon màu xanh; 01 phong bì màu trắng niêm phong ban đầu”; Mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Công an tỉnh Sơn La, 01 dấu điểm chỉ của đương sự, chữ ký, dòng ghi họ tên của thành phần tham gia niêm phong;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếc dây vải màu đen của Vừ Bả S dùng để buộc cất giấu ma túy vào người; 01 (Một) giấy nilon màu đen của Vừ Bả S dùng để gói ma túy.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE Model L800, vỏ màu đen, xám đã qua sử dụng, IMEI có 04 số cuối 7824 kèm 01 sim trong máy thu giữ của Vừ Bả S.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vừ Bả S.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ