vanban.org

Bản án 538/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Chu Thị Thu H.

Xử chi chị Chu Thị Thu Hăng được ly hôn anh Lương Văn L. Về con chung: Có 1 con chung là là Lương Mộc Tr, sinh ngày 31/3/2021. Hiện cháu đang ở với chị Chu Thị Thu Hăng. Giao cho chị H tiếp tục nuôi cháu Tr cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chu Thị Thu H - Lương Văn L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Chu Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN BA VÌ - TP. HÀ NỘI.
Bản án số: 538 /2021/HNGĐ - ST
Ngày: 30/11/2022
V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia
đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CH XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hường Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bống

2. Bà Đỗ Thị Thu Hồng Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy- Thư ký Tòa án nhân huyện Ba Vì Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thái Bình.

Trong ngày 30 tháng 11 năm 2022 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử sơ thẩm công khaivụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 399/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp“Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2022/QĐXX-ST ngày 09 tháng 11 năm2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Chu Thị Thu H, sinh năm 1994

HKTT: Thôn CH, xã TH, huyện Ba Vì,TP. Hà Nội

- Bị đơn: Anh Lương Văn L, sinh năm 1994

HKTT: Thôn CH, xã TH, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội

( Chị H, anh L đều có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hoà giải chị Chu Thị Thu H trình bày:Chị kết hôn với anh Lương Văn L có đăng ký kết hôn vào ngày 28/4/2017 tại Ủy ban nhân dân xã TH, huyện Ba Vì, Hà Nội, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nhau. Sau khi cưới xong vợ chồng chung sống tại gia đình nhà chồng, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, không tâm sự chia sẻ những buồn vui trong cuộc sống, khi vợ chồng mâu thuẫn hai bên gia đình nội, ngoại đứng ra giàn xếp nhưng vợ chồng không chung sống được, vợ chồng sống ly thân từ ngày 20/8/2022 cho đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh L

Theo bản tự khai và biên bản hoà giải của anh Lương Văn L trình bày: Tôi và chị Chu Thị Hằng đăng ký kết hôn vào ngày 28/4/2017 tại Ủy ban nhân dân xã TH, huyện Ba Vì, Hà Nội, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nhau. Sau khi cưới xong vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, dẫn đến không hợp tính cách, vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ tôi bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ ngày 16/8/2022 cho đến nay,vợ chồng sống ly thân từ ngày đó cho đến nay. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, nguyện vọng của tôi là muốn về đoàn tụ, nếu trường hợp vợ tôi kiên quyết ly hôn thì tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: có 01 con chung là cháu Lương Mộc Tr, sinh ngày 31/3/2021. Hiện nay cháu đang ở với chị H.

Quan điểm của chị Chu Thị Thu H xin được tiếp tục nuôi cháu Tr và yêu cầu anh L trợ cấp nuôi con chung là: 3.000.000đ/ tháng.

Quan điểm của chị Lương Văn L cũng xin được tiếp tục nuôi cháu Tr và không yêu cầu chị H trợ cấp nuôi con chung .

Về tài sản chung: Anh chị thừa nhận không có

Về tài sản riêng: Anh chị thừa nhận không có.

Về công nợ: Anh chị thừa nhận không có.

Tại phiên tòa hôm nay chị Chu Thị Thu H vẫn cương quyết xin ly hôn và con chung xin được nuôi cháu Lương Mộc Tr và yêu cầu anh L trợ cấp 1.500.000đ/ tháng và anh Lương Văn L nguyện vọng muốn vợ chồng về đoàn tụ, nếu trường hợp vợ tôi kiên quyết ly hôn thì tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Con chung: anh đồng ý giao cho chị H được nuôi cháu Tr và anh đồng ý trợ cấp cho chị H 1.500.000đ/ tháng để nuôi cháu Tr. *Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

+ Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Các Hội thẩm nhân dân đều thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật; Hồ sơ đã làm đầy đủ các quy định theo bộ luật tố tụng dân sự; Viện kiểm sát không có ý kiến gì.

+ Về nội dụng vụ án: Áp dụng điều 56,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Chu Thị Thu H. Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Chu Thị Thu H và anh Lương Văn L.Về con chung: Có 01 con chung là cháu Lương Mộc Tr, sinh ngày 31/3/2021. Giao cho chị H tiếp tục nuôi cháu Tr cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác. Anh L phải trợ cấp nuôi con chung 1.500.000đ/tháng.Về tài sản chung, riêng, công nợ: không có. Về án phí: chị Chu Thị Thu H tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: : Chị Chu Thị Thu H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Lương Văn L, quan hệ pháp luật giải quyết là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị H, anh L cùng có hộ khẩu thường trú tại huyện Ba Vì nên theo quy định tại khoản 1 điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Chu Thị Thu H và anh Lương Văn L là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp tính cách, vợ chồng không còn tình cảm. Hai anh chị đã sống ly thân nhau, cắt đứt quan hệ từ tháng 08/ 2022 đến nay.Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H, anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nhiều lần tòa đã tiến hành hòa giải để anh chị về chung sống với nhau, xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng không thành, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn cương quyết xin ly hôn, anh L xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nguyện vọng xin được đoàn tụ, nếu chị H cương quyết xin ly hôn thì anh L đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật. Xét thấy, hôn nhân giữa chị H và anh L không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy HĐXX cho chị Chu Thị Thu H được ly hôn anh Lương Văn L là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

VÒ con chung: có 1 con chung là Lương Mộc Tr, sinh ngày 31/3/2021. Hiện cháu đang ở với chị Chu Thị Thu H. Nguyện vọng của chị H xin được tiếp tục nuôi cháu, tại phiên toà anh L đồng ý giao cháu Tr cho chị H nuôi. Xét thấy, hiện nay cháu Tr đang ở với chị H, cháu Tr còn nhỏ vẫn còn bú mẹ, nên rất cần mẹ quan tâm, chăm sóc, chị H có công việc ổn định với mức thu nhập cao nên có nhiều thời gian, chăm sóc con tốt hơn, theo quy định của pháp luật con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho mẹ chăm sóc. Do vậy, HĐXX thấy để đảm bảo cuộc sống của cháu Tr cần phải tiếp tục giao cho chị H được nuôi cháu Tr cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên toà chị Chu Thị Thu H yêu cầu anh Lương Văn L phải trợ cấp nuôi con chung là 1.500.000đ/tháng, anh L đồng ý chấp nhận trợ cấp 1.500.000đ/ tháng. Do vậy, HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của chị Chu Thị Thu H và anh Lương Văn L và buộc anh Lương Văn L phải trợ cấp cho chị Chu Thị Thu H để nuôi cháu Lương Mộc Tr 1.500.000đ/tháng, kể từ tháng 12/2022 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác.

Về tài sản chung, riêng ; không có.

Công nợ: không có.

Án phí: Chị Chu Thị Thu H tự nguyện nộp án phí hôn nhân sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 82,84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14. Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Chu Thị Thu H.

Xử chi chị Chu Thị Thu Hăng được ly hôn anh Lương Văn L.

2. Về con chung: Có 1 con chung là là Lương Mộc Tr, sinh ngày 31/3/2021. Hiện cháu đang ở với chị Chu Thị Thu Hăng. Giao cho chị H tiếp tục nuôi cháu Tr cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác.

Anh Lương Văn L được quyền qua lại, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lương Văn L phải trợ cấp cho chị Chu Thị Thu H để nuôi cháu Lương Mộc Tr 1.500.000đ/tháng, kể từ tháng 12/2022 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi khác.

3.Về tài sản chung, riêng; không có.

4. Công nợ: không có.

5. Về án phí: chị Chu Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ áp phí trợ cấp nuôi con chung, chị H được đối trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0060466 ngày 07/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Nay chị Chu Thị Thu H phải nộp tiếp số tiền 300.000đ.

6. Quyền kháng cáo: Chị H, anh L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ