vanban.org

Bản án 537/2025/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/09/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Minh D, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 186/2025/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh).

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 186/2025/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh) không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Minh D - Vi phạm quy định về pham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Minh D, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 186/2025/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 537/2025/HS-PT
Ngày: 17/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Thành Hiếu

Ông Hoàng Trí Thức

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Đài Trang - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 376/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo Vũ Minh D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 186/2025/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh).

Bị cáo có kháng cáo: Vũ Minh D, sinh năm 1971 tại Ninh Bình; Thường trú: 6 H, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường V, Thành phố Hồ Chí Minh); Nơi ở: B L, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Vũ Minh D1 và bà Vũ Thị T (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1974) và 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 16/12/2024, tạm giam tại Trại tạm giam số 01, Công an Thành phố H. (có mặt)

Ngoài ra, trong vụ án còn có đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10h05’ ngày 13/10/2024, Vũ Minh D điều khiển xe ô tô biển số 72A-423.78 lưu thông trên đường T theo hướng từ đường T về đường L, khi đi đến trước nhà số B T, Phường C, thành phố V, D dừng lại mở cửa lái để xuống xe thì va chạm cửa xe với xe mô tô 72C1-900.72 do chị Lê Thị Hồng H điều khiển lưu thông cùng chiều từ phía sau đi đến, làm chị H ngã xuống đường và xảy ra va chạm với xe ô tô biển số 72A-453.41 do Hoàng Khắc Q điều khiển lưu thông chiều ngược lại. Hậu quả: chị H chết tại bệnh viện V.

Kết quả khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn:

- Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại khu vực trước số nhà B T, Phường C, thành phố V, trên đường T, đây là đoạn đường thẳng, mặt đường bằng phẳng trải nhựa có bề rộng 10,5m. Giữa đường có kẻ vạch sơn màu vàng nét đứt phân chia hai chiều xe chạy riêng biệt. Khu vực nơi xảy ra tai nạn có hệ thống biển báo cấm đỗ xe ngày lẻ (131b).

Chọn mép đường bên phải đường Trương Công Định hướng từ Trần Đồng về Ngã 5 L – Trương Công Đ – B (gọi tắt Ngã 5) là mép đường chuẩn để đo các số liệu. Chọn trụ đèn chiếu sáng số 87 trước nhà số B T làm điểm mốc để đo các số liệu.

Mô tả hiện trường:

- Số thứ tự 01 là vị trí xe ô tô biển số 72A-423.78 dừng bên phải đường Trương Công Định theo hướng về ngã năm Lê Hồng P. Đầu xe hướng về Ngã 5 L, đuôi xe hướng về đường T. Từ tâm trục bánh trước bên phải đo đến mép đường chuẩn là 1,25m.

- Số thứ tự 02 là vị trí xe mô tô biển số 72C1-900.72: Sau tai nạn xe mô tô đổ ngã nghiêng bên trái nằm trên đường T. Đầu xe hướng vào mép đường chuẩn. Từ tâm trục bánh trước đo đến mép đường chuẩn là: 3,9 m và tâm trục bánh sau đo đến mép đường chuẩn là 5,2 m. Gác chân trước bên trái đo đến tâm trục bánh sau bên phải của xe ô tô biển số 72A-423.78 là 3,6m.

- Số thứ tự 03 là vị trí xe ô tô biển số 72A-453.41: sau tai nạn dừng lại bên trái đường T theo hướng về Ngã 5, đầu xe hướng về đường T. Từ tâm trục bánh trước bên trái đo đến mép đường chuẩn là 8,5 m, từ tâm trục bánh sau bên trái đo đến mép đường chuẩn là 8,3 m. Từ tâm trục bánh sau bên trái đo đến tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô biển số 72A-423.78 là 13,9 m và từ tâm trục bánh sau bên trái đó đến gác chân trước bên trái xe mô tô biển số 72C1-900.72 là 13,2m.

- Số thứ tự 04 là vị trí đầu vết cày đến xe mô tô biển số 72C1-900.72: sau tai nạn vết cày lõm đứt quãng in trên mặt đường T trượt hướng về Ngã 5 đến gác để chân trước bên trái xe mô tô biển số 72C1-900.72. Từ đầu vết cày đo đến mép đường chuẩn là 4,4 m và đến gác để chân bên trái xe mô tô biển số 72C1-900.72 là 0,8 m.

- Số thứ tự 05 là vệt màu đỏ đứt quãng trượt dài đến vùng dung dịch màu nâu đỏ. Sau tai nạn vệt màu đỏ đứt quãng nằm bên trái đường Trương Công Định theo hướng về Ngã 5 và trượt dài đến vùng dung dịch màu nâu đỏ chiều hướng về đường T. Từ đầu vệt màu đỏ đo đến mép đường chuẩn là 7,55m và đo đến tâm dung dịch màu nâu đỏ là 4,4m.

- Số thứ tự 06 là vùng dung dịch màu nâu đỏ: sau tai nạn vùng dung dịch màu nâu đỏ loang trên mặt đường T, bên trái theo hướng về Ngã 5 L, có kích thước 0,7x0,4 m. Từ tâm vùng dung dịch đo đến mép đường chuẩn là 8,2m và đo đến tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô biển số 72A-453.41 là 1,2 m.

- Số thứ tự 07 là khu vực điểm va chạm thứ nhất: Sau khi khám nghiệm các dấu vết tại hiện trường và các dấu vết trên phương tiện. Điểm va chạm thứ nhất được xác định nằm bên phải trên mặt đường Trương Công Định theo hướng về Ngã 5 L. Từ điểm va chạm thứ nhất đo đến mép đường chuẩn là 3,7m, đo đến điểm mốc là 15,3 m, đo đến tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô 72A-423.78 là 1,5m, đo đến gác chân trước bên trái xe mô tô biển số 72C1-900.72 là 2,2m đo đến tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô biển số 72A-453.41 là 14,9m, đo đến đầu vết cày là 1,4m.

- Số thứ tự 08 là khu vực điểm va chạm thứ hai: Sau khi khám nghiệm các dấu vết tại hiện trường và các dấu vết trên phương tiện. Điểm va chạm thứ hai được xác định nằm bên trái trên mặt đường T theo hướng về Ngã 5 L. Từ điểm va chạm thứ hai đo đến mép đường chuẩn là 6,1m, đo đến điểm va chạm thứ nhất là 3,5 m, đo đến gác chân trước bên trái xe mô tô biển số 72C1-900.72 là 1,4 m, đo đến tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô biển số 72A-453.41 là 13,9 m, đo đến tâm vùng dung dịch màu nâu đỏ là 18,1m.

Quá trình khám nghiệm hiện trường đã trích xuất, thu giữ dữ liệu điện tử camera ghi lại hình ảnh vụ việc nêu trên.

Điều kiện tham gia giao thông đường bộ:

Tiến hành xét nghiệm máu của Vũ Minh D và Hoàng Khắc Q, giám định máu của Lê Thị Hồng H xác định trong máu của cả ba không có nồng độ cồn.

Qua xác minh, xác định bị cáo D có giấy phép lái xe ô tô số 770179004887 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 12/7/2017, và các giấy tờ xe khác liên quan đến xe ô tô biển số 72A-423.78.

Ông Q có giấy phép lái xe ô tô số 400167006587 do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 09/7/2019, và các giấy tờ xe khác liên quan đến xe ô tô biển số 72A-453.41.

Xe ô tô biển số 72A-423.78 do Vũ Minh D đứng tên chủ sở hữu.

Xe ô tô biển số 72A-453.41 do chị Lê Thị Như Q1 (sinh năm 1986; thường trú: Căn hộ A2.10.10, Chung cư L, 2 N, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; là chị họ ông Q) đứng tên chủ sở hữu.

Giám định dấu vết va chạm: Bản kết luận giám định số 380/KL-KTHS-DVCH ngày 07/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

1. Dấu vết trượt xướt mất kim loại màu trắng tại phía trước đầu tay phanh; dấu vết rách và mất cao su tại ốp tay cầm lái, bên phải, ở xe mô tô biển số 72C1-900.72 (ảnh 5,7 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết biến dạng, trượt xước mất sơn màu vàng, bám dính chất màu trắng và màu đen (dạng kim loại và cao su) tại mép cánh cửa phía trước, bên trái, ở xe ô tô biển số 72A-423.78 (ảnh 6, 8 trong bản ảnh giám định).

2. Dấu vết cong về sau và trượt xoay ốp cao su gác để chân trước, bên phải, ở xe mô tô biển số 72C1-900.72 (ảnh 5, 9 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết biến dạng kim loại, rách và bung ron cao su tại góc ngoài, phía dưới cánh cửa trước, bên phải, ở xe ô tô biển số 72A-423.78 (ảnh 6, 10 trong bản ảnh giám định).

3. Chiều dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 72C1-900.72 và xe ô tô biển số 72A-423.78:

- Trên xe mô tô biển số 72C1-900.72 là từ trước về sau, từ trong ra ngoài.

- Trên xe ô tô biển số 72A-423.78 là từ sau ra trước.

Kết quả giám định hình ảnh dữ liệu điện tử số 7982/KL-KTHS ngày 14/02/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh:

1. Không phát hiện thấy dấu vết cắt, dán, ghép, chỉnh sửa về nội dung đối với tập tin video gửi ký hiệu giám định A.

2. Tốc độ của xe ô tô màu sơn trắng biển số 72A-453.41 ngay trước khi xảy ra va chạm là trong khoảng từ 33 km/h đến 34 km/h.

Bản kết luận giám định tử thi số 385/KLGĐTT-PC09 ngày 12/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh B:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám nghiệm: Tụ máu dưới da vùng đầu vùng trán-thái dương phải. Tụ máu trong cơ thái dương phải. Nứt sọ vùng thái dương phải, chiều dài 4cm. Xuất huyết dưới nhện trán-thái dương phải. Dập não vùng trán-thái dương phải. Xuất huyết tiểu não.

- Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Trong máu tử thi Lê Thị Hồng H không tìm thấy cồn; không tìm thấy ma túy.

2. Kết luận:

- Kết luận nguyên nhân chết: Lê Thị Hồng H chết do chấn thương sọ não.

- Kết luận khác: Vật tác động gây chết làn vật tày, diện tiếp xúc rộng, tác động trực tiếp vào vùng đầu cơ thể nạn nhân theo chiều từ phải sang trái.

- Trong máu tử thi Lê Thị Hồng H không tìm thấy cồn; Không tìm thấy ma túy.

Nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông là do: Vũ Minh D điều khiển xe ô tô biển số 72A-423.78 lưu thông trên đường T theo hướng từ đường T về đường L, khi dừng xe trước khu vực nhà số B T, Phường C, thành phố V đã không dừng xe sát lề phải đường Trương Công Định (tâm trục bánh trước bên phải đo đến mép đường chuẩn là 1,25m), không chú ý quan sát, mở cửa xe không đảm bảo an toàn, dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 72C1-900.72 do chị Lê Thị Hồng H điều khiển làm chị ngã ra đường bị xe ô tô biển số 72A-453.41 do Hoàng Khắc Q điều khiển va chạm làm chị H tử vong. Hành vi của Vũ Minh D đã vi phạm các điểm b, đ khoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ “Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình”, “Không mở cửa xe, đề cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn” và khoản 1 Điều 19 Luật giao thông đường bộ “Phải cho xe dừng, đỗ sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình; bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, hè phố quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông...”. Hậu quả của hành vi vi phạm giao thông của D dẫn đến làm chị H tử vong, đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao hông đường bộ" quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Minh D đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Đối với hành vi điều khiển xe ô tô biển số 72A-453.41 của Hoàng Khắc Q, căn cứ theo kết quả giám định hiện trường, kết quả giám định dữ liệu điện tử về tốc độ xe ô tô biển số 72A-453.41 ngay trước khi xảy ra va chạm là trong khoảng từ 33km/h đến 34km/h, thời điểm xe mô tô của chị H va chạm với cửa xe ô tô của D lúc 10 giờ 06 phút 57 giây đến thời điểm xe ô tô của Q va chạm với chị H là 10 giờ 06 phút 58 giây là sự kiện bất ngờ theo quy định tại Điều 20 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Hoàng Khắc Q không vi phạm Luật giao thông đường bộ 2008, vì vậy không có căn cứ cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

*Vật chứng vụ án:

- 01 xe ô tô hiệu Toyota Vios, màu sơn nâu vàng, số khung: 9F39J5043833, số máy: 2NRX339951, biển số: 72A-423.78, bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 giấy phô tô Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 061690, tên VŨ MINH D, Biển số đăng ký: 72A-423.78 và 01 giấy biên nhận thế chấp; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số: EB0267278 đối với xe ô tô biển số: 72A-423.78; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS và tự nguyện của chủ xe ô tô đối với xe ô tô biển số: 72A-423.78; 01 thẻ nhớ hiệu SanDisk Ultra 32GB gắn trên thiết bị camera hành trình của xe ô tô biển số: 72A-423.78. Toàn bộ những đồ vật, tài liệu, phương tiện nêu trên đã trả lại cho bà Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1974; thường trú: 6 H, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).

- 01 Giấy phép lái xe số 770179004887, Họ tên: VŨ MINH D; Ngày sinh 23/9/1971; Quốc tịch: Việt Nam; Nơi cư trú: 6 H, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 12/7/2017. Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án.

- 01 thiết bị camera hành trình Vietmap model A, Mã vạch A5020200901475; 01 thẻ nhớ hiệu Vietmap, màu đen, 32GB; 01 Giấy phép lái xe số 400167006587, Họ tên: HOÀNG KHẮC QUANG; Ngày sinh 18/02/1997; Quốc tịch: Việt Nam; Nơi cư trú: K, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An; do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 09/7/2019; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 066811, tên LÊ THỊ N QUỲNH, Biển số đăng ký: 72A-453.41 và 01 giấy biên nhận; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số: DA5635723 đối với xe ô tô biển số 72A-453.41. Toàn bộ những đồ vật, tài liệu, nêu trên đã trả lại cho Hoàng Khắc Q.

- 01 xe ô tô hiệu Toyota Vios, màu sơn trắng, số khung: 3F36L5095601, số máy: 2NRX626876, biển số 72A-453.41, bị hư hỏng do tai nạn giao thông. Phương tiện đã được trả lại cho chị Lê Thị Như Q1 (sinh năm 1986; thường trú: Căn hộ A2.10.10, Chung cư L, 2 N, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).

- 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số: 771079003103, Họ tên: LÊ THỊ HỒNG H; Ngày sinh: 28/3/1976; Quốc tịch: Việt Nam; Nơi cư trú: 1 P, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 04/6/2016; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô đối với xe mô tô biển số 72C1-900.72; 01 xe mô tô biển số 72C1-900.72, hiệu Honda AirBlade, màu sơn đỏ, số máy: JA36E0407326, Số khung: RLHJA3643GY003161. Toàn bộ những đồ vật, tài liệu, phương tiện nêu trên đã trả lại cho chị Lê Thị Thu T2 (sinh năm 1973; thường trú: 1 P, Phường B, thành phố V, chị ruột chị H).

* Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại Lê Thị Hồng H yêu cầu bồi thường 300.000.000 đồng.

2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 186/2025/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh) đã quyết định: Tuyên bố Vũ Minh D phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Minh D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2024.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Ngày 30/6/2025, bị cáo Vũ Minh D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

4. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo, khai nhận hành vi phạm tội.

5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:

Về tố tụng: Bị cáo Vũ Minh D có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Vũ Minh D phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, xử phạt bị cáo 18 (Mười tám) tháng tù là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm chứng cứ hay tài liệu nào mới để xem xét cho kháng cáo của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

6. Bị cáo tranh luận với đại diện Viện kiểm sát:

Tại vị trí xảy ra tai nạn giao thông ngày hôm đó, khu vực đông dân cư gần ngã 5, có nhiều người đứng ra làn đường xe lưu thông, ông Q không giảm tốc độ mà vẫn lái xe đạt tốc độ 33-34km/h, sau va chạm không thắng mà kéo lê chị H hơn 10m, người dân phải nâng xe lên kéo chị H ra. Cấp sơ thẩm xác định ông Q không vi phạm Luật Giao thông là không đúng.

7. Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Đã có kết luận về video ghi nhận nội dung vụ việc và xác định đối với ông Q là sự kiện bất ngờ. Nguyên nhân để xảy ra vụ tai nạn giao thông là do lỗi của bị cáo đã không dừng xe sát lề phải đường, không chú ý quan sát, mở cửa xe không đảm bảo an toàn.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm và đề nghị.

8. Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, nói lời sau cùng thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể, hình thức và nội dung đơn kháng cáo, là kháng cáo hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về tội danh và Điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 10h05’ ngày 13/10/2024, Vũ Minh D điều khiển xe ô tô biển số 72A-423.78 lưu thông trên đường T theo hướng từ đường T về đường L, khi đến trước nhà số B T, Phường C, thành phố V, đã không dừng xe sát lề phải (tâm trục bánh trước bên phải đo đến mép đường chuẩn là 1,25m), không chú ý quan sát, mở cửa xe không đảm bảo an toàn, dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 72C1-900.72 do chị Lê Thị Hồng H điều khiển khiến chị ngã ra đường, bị xe ô tô biển số 72A-453.41 do ông Hoàng Khắc Q điều khiển va chạm làm chị H tử vong.

Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Vũ Minh D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn giao thông, gây thiệt hại về tính mạng cho người khác, gây hoang mang lo lắng cho cộng đồng. Nguyên nhân xảy ra vụ việc là do lỗi của bị cáo khi không dừng xe sát lề phải, không chú ý quan sát, mở cửa xe không đảm bảo an toàn, làm bị hại va chạm ngã ra đường và tử vong do va chạm với xe ô tô khác lưu thông ngược chiều. Do vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo bổ sung tài liệu chứng cứ mới thể hiện bị cáo đã tích cực tham gia hiến máu, có thành tích trong phong trào thi đua của địa phương; cha bị cáo là thương binh từng tham gia kháng chiến theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, mức án cấp sơ thẩm đã tuyên là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử quyết định không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Minh D, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 186/2025/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh).

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Minh D 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2024.

2. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 186/2025/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh) không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Vũ Minh D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (17/9/2025).

Cỡ chữ