vanban.org

Bản án 535/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được quyền ly hôn với ông Trương Văn L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn đơn phương"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 535/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21/4/2022
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương.

- Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Phước Trinh;

2. Bà Phạm Thị Ngọc.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không.

Trong ngày 21 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 495/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2021 về việc: “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 121/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 (có mặt).

Thường trú: Xóm 7, thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình.

Địa chỉ liên lạc: Số 32, đường T, ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: ng Trương Văn L, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Thường trú: Số 111, đường 511, tổ 5, ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại Đơn xin ly hôn ngày 09/4/2021 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày sự việc như sau:

Bà (Nguyễn Thị H) và ông Trương Văn L tự nguyện chung sống, kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2019. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sống chung nhà được vài tháng thì xảy ra mâu thuẫn vì chồng bà hay nhậu nhẹt, không lo làm ăn, có người phụ nữ khác

- 1 -

bên ngoài. Bà làm đơn xin ly hôn nhưng gia đình khuyên cho thời gian để chồng bà thay đổi nhưng suốt thời gian sau đó chồng bà vẫn không thay đổi, không quan tâm gì đến gia đình, một mình bà đi làm quán xuyến mọi việc. Bà đã dọn ra nhà trọ sống chung với mẹ ruột bà đã hơn 01 năm nay. Vì mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên bà yêu cầu dứt khoát ly hôn với ông L.

Về con chung: Bà và ông L không có con chung.

Tài sản chung: Bà và ông L không có tài sản chung.

Nợ chung: Bà và ông L không có nợ chung.

- Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Trương Văn L không có mặt nên không có lời khai của ông L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ kiện: “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn trong vụ kiện ông Trương Văn L hiện cư trú tại huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 495/TB-TA ngày 04/5/2021; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2022 kèm giấy triệu tập và Quyết định hoãn phiên tòa số 121/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2022 kèm giấy triệu tập nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Trương Văn L vắng mặt mà không rõ lý do. Căn cứ Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông L.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Trương Văn L, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị H và ông Trương Văn L tự nguyện chung sống, kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Giấy chứng nhận kết hôn số 03 ngày 08/01/2019 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, nên là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.

Theo lời bà H trình bày thì sau khi kết hôn vợ chồng bà sống chung nhà được vài tháng thì xảy ra mâu thuẫn vì chồng bà hay nhậu nhẹt, không lo làm ăn, có người phụ nữ khác bên ngoài. Bà làm đơn xin ly hôn nhưng gia đình khuyên cho

- 2 -

thời gian để chồng bà thay đổi nhưng suốt thời gian sau đó chồng bà vẫn không thay đổi, không quan tâm gì đến gia đình, một mình bà đi làm quán xuyến mọi việc. Bà đã dọn ra nhà trọ sống chung với mẹ ruột bà đã hơn 01 năm nay. Vì mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên bà yêu cầu được ly hôn dứt khoát với ông L.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, tạo dựng hạnh phúc gia đình, nhưng cuộc sống vợ chồng giữa bà H và ông L có nhiều mâu thuẫn. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông L đều không có mặt mà không có lý do, điều này thể hiện ông L không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà H.

Từ phân tích trên, có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà H và ông L không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu bà H là có cơ sở.

- Về con chung:

Bà H khai bà H và ông L không có con chung nên không xét.

- Tài sản chung:

Bà H khai bà H và ông L không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về nghĩa vụ dân sự chung:

Bà H khai bà H và ông L không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí:

Bà H phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 3 Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị H được quyền ly hôn với ông Trương Văn L.

- 3 -

Giấy chứng nhận kết hôn số 03 ngày 08/01/2019 do Ủy ban nhân dân xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà H và ông L không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung:

Bà H khai bà H và ông L không có con chung nên không xét.

- Về tài sản chung:

Bà H khai bà H và ông L không có tài sản chung nên không xét.

- Về nghĩa vụ dân sự chung:

Bà H khai bà H và ông L không có nghĩa vụ dân sự chung nên Hội đồng xét xử không xét.

2. Về án phí:

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm buộc bà H phải nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0086134 ngày 04/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, bà H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa (ông Trương Văn L) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Cỡ chữ