- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trốn khỏi nơi giam - phạm tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử (điều 386 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trốn kh i nơi giam”;
| TA ND TP.THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 535/2019/HS-ST Ngày 14 tháng 10 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Long
2. Ông Trần Xuân Viện
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 10 năm 2019 tại Hội trường, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 534/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 553/2019/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 9 năm 2019, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, (tên gọi khác Phạm Thanh T), sinh ngày 07/5/1999;
ĐKHKTT: Khu dân cư K I, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương;
D©n téc: Kinh; Quèc tÞch: ViÖt Nam; T«n gi¸o: Kh«ng; Văn hóa: 8/12; NghÒ nghiÖp: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; bị cáo không biết bố là ai; con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 25/6/2019 bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” .
Bị cáo bị tạm giam trong vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (có mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng:
1.Trần Minh H, sinh ngày 15/12/1991 (vắng mặt tại phiên tòa);
Trú tại: thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
2. Trần Mạnh T, sinh ngày 30/5/1993 (vắng mặt tại phiên tòa);
Trú tại: Tổ dân phố U, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
3. Đặng Thị L, sinh ngày 12/01/1979 (vắng mặt tại phiên tòa);
Trú tại: Tổ M, phường TT, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.
4. Lý Văn S, sinh ngày 23/6/1990 (vắng mặt tại phiên tòa);
Trú tại: Xóm V, xã T, huyện H, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/6/2019 Nguyễn Văn H bị ơ quan n ninh điều tra ông an tỉnh Thái Nguyên bắt tạm giữ về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Quyết định tạm giữ số 06 và được đưa đến Trại tạm giam ông an tỉnh Thái Nguyên hồi 22 giờ 00 ph t c ng ngày, đến ngày 25/6/2019 chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 07 với thời hạn 84 ngày. Quá trình tạm giam tại Trại tạm giam ông an tỉnh Thái Nguyên, sáng ngày 28/6/2019 Nguyễn Văn H có biểu hiện đau nhiều v ng hố ch u trái, ăn uống kém, buồn nôn, nôn ra th c ăn, da niêm mạc nhợt nhạt. Trại tạm giam ông an tỉnh Thái Nguyên đ tr ch xuất đưa H đến khám và điều trị tại Khoa ngoại tổng hợp Bệnh viện tỉnh Thái Nguyên.
Trong thời gian khám và điều trị tại Khoa ngoại Bệnh viện tỉnh Thái Nguyên đến khoảng 12 giờ 30 ph t c ng ngày H xin cán bộ quản giáo cho đi vệ sinh. Sau khi đi vệ sinh xong, lợi dụng sơ hở c a cán bộ quản giáo, H lẻn đi xuống tầng 1 rồi vòng ra cổng sau c a Bệnh viện đi lên đường cao tốc Thái Nguyên – Hà Nội bắt xe taxi BKS 20A – 183.XX do anh Lý Văn S điều khiển, b trốn về Hải ương. Khi đi đến phường V, thành phố H, tỉnh Hải ương do sợ bị phát hiện nên H bảo anh S dừng xe rồi nhảy xuống sông Thái Bình trốn. Tuy nhiên H bơi được khoảng 20m do mệt nên leo lên 01 chiếc thuyền c a người dân thì bị ông an phường Việt Hòa, thành phố Hải Dương bắt giữ.
Tại bản cáo trạng số 526/CT-VKSTPTN ngày 18/9/2019, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trốn kh i nơi giam” theo quy định tại khoản 1 Điều 368 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội như đ nêu trên. Bị cáo khai do muốn về thăm bà ngoại nên thấy sơ hở c a cán bộ quản giáo đ b trốn.
Kết thúc thẩm vấn, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trình bày lời lu n tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Trốn kh i nơi giam”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 386, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t hình sự, xử phạt Nguyễn Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Buộc bị cáo phải nộp án ph theo quy định.
Bị cáo không tranh lu n, thừa nh n việc truy tố và xét xử là không oan, đ ng người, đ ng tội. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
ăn c vào những ch ng c và tài liệu đ được thẩm tra tại phiên tòa; căn c
vào kết quả tranh lu n tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đ , toàn diện ch ng c , ý kiến c a Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
. Về t nh hợp pháp c a các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng c a ơ quan điều tra ông an thành phố Thái Nguyên, c a Điều tra viên, c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, c a Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đ thực hiện đ ng thẩm quyền, trình tự, th tục theo quy định c a Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định c a ơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. o đó các hành vi, quyết định tố tụng c a ơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ được thực hiện đều hợp pháp.
. Về ch ng c xác định hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đ khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội c a mình như nội dung bản cáo trạng đ mô tả, bị cáo xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đ ng người, đ ng tội. Xét thấy lời nh n tội c a bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các ch ng c , tài liệu khác đ thu th p được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc, báo cáo người bị tạm giữ tạm giam trốn kh i nơi điều trị, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường nơi H b trốn, lời khai người làm ch ng, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt giữ người có hành vi trốn kh i nơi tạm giữ, tạm giam và các ch ng c , tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như v y Hội đồng xét xử có đ căn c xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 28/6/2019, Nguyễn Văn H đang được Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên trích xuất đưa đi điều trị tại Khoa ngoại tổng hợp Bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên, lợi dụng sơ hở c a cán bộ quản giáo, H đã b trốn kh i phòng điều trị c a Bệnh viện A, đi lên đường cao tốc Thái Nguyên – Hà Nội bắt xe ô tô taxi BKS 20A – 183.XX do anh Lý Văn S điều khiển đi về tỉnh Hải ương. Khi H đi đến khu vực phường V, thành phố H, tỉnh Hải ương thì bị Công an phường Việt Hòa, thành phố Hải Dương phát hiện, bắt giữ.
Hành vi c a bị cáo đ yếu tố cấu thành tội “Trốn kh i nơi giam” theo khoản 1 Điều 386 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn c .
. Về tính chất, m c độ, hành vi: Xét tính chất m c độ c a vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đ trực tiếp xâm phạm đến chế độ tạm giam trong hoạt động điều tra, đến sự hoạt động bình thường c a các cơ quan tiến hành tố tụng. Hành vi phạm tội c a bị cáo cần phải xét xử bằng pháp lu t hình sự và có một m c án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra kh i xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử nh n thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng đang bị tạm giam trong vụ án Lừa đảo chiểm đoạt tài sản đang được Công an tỉnh Thái Nguyên điều tra. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, có thái độ t ra ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình éo le, không có bố, mẹ đang đi lao động ở nước ngoài, trước khi phạm tội ở với bà ngoại đ già nên phần nào cũng ảnh hưởng đến việc giáo dục bị cáo. Xét thấy nên giảm nhẹ cho bị cáo một m c hình phạt để thấy rõ lượng khoan hồng c a pháp lu t, tích cực cải tạo tốt, sớm trở về với gia đình và x hội.
Trong vụ án còn có anh Trần Minh H (cán bộ quản giáo Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên) có trách nhiệm trong việc để H trốn, Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên đã có văn bản báo cáo Công an tỉnh Thái Nguyên xử lý theo quy định.
Đối với Lý Văn S là người điều khiển xe ô tô taxi đưa H về tỉnh Hải Dương, quá trình điều tra xác định khi anh S đưa H về tỉnh Hải Dương anh S không biết H là người bị tạm giữ, tạm giam b trốn kh i nơi giam, giữ, nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
. Bị cáo phải nộp án hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định c a pháp lu t.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trốn kh i nơi giam”;
1. Áp dụng Khoản 1 Điều 386, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ lu t hình sự năm 2015 xử phạt:
Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành bản án này.
2. Về án ph : ăn c khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Lu t Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND TPTN; - Công an TPTN; - TAND, VKSND tỉnh TN; - Chi cục THADSTPTN; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo; - UBND P. Văn Đ c, TP Chí Linh, Hải ương; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thu Hà |