vanban.org

Bản án 534/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/11/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Hành trình vụ án
Phúc thẩm Bản án 451/2017/HSPT Tuyên án 31/08/2017
Phúc thẩm — đang xem Bản án 534/2018/HS-PT Tuyên án 23/11/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phúc D - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
!
Bản án số: 534/2018/HS-PT
Ngày: 23-11-2018

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Huỳnh Thị Việt Tiên

Các"Thẩm"phán:" 1/ Ông Vũ Hoài Nam"

2/ Bà Đoàn Thị Hương Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Khanh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22, 23 tháng 11 năm 2018 tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 443/2018/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo Trần Phúc D. do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2018/HSST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo kháng cáo: "

Trần!Phúc!D.;!sinh ngày 09/6/1990 tại thành phố Cần Thơ; Thường trú: Ấp X, xã Y, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ; tạm trú: Số X2, đường Y2. Xã Z2, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Kỹ sư; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Tr. (C) và bà Dương Thị Đ.; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/10/2016 (Có mặt).

Người"bị"hại:"Ông Lê Xuân Qu., sinh năm 1985 (chết)

Người"đại"diện"hợp"pháp"của"người"bị"hại:""

Ông Lê Văn Q., sinh năm 1962 (cha ruột)

Thường trú: Ấp X3, xã Y3, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (Có mặt).

"

Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"

1. Ông Ca Chí L., sinh năm 1980 Địa chỉ: Số X4, đường Y4, phường Z4, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt). 2. Công ty TNHH Thương mại V. Địa chỉ: Số X5, ấp Y5, xã Z5, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Th. (Vắng mặt). Người"làm"chứng:" 1. Ông Lê Thanh H., sinh năm 1984 Địa chỉ: Số X6, đường Y6, phường Z6, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt). 2. Ông Nguyễn Nhựt L2., sinh năm 1990 Địa chỉ: Số X7, đường Y7, phường Z7, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt). 3. Ông Lê Văn X., sinh năm 1988 Địa chỉ: Số X8, đường Y8, phường Z8, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt). 4. Ông Nguyễn Đ2., sinh năm 1970 Địa chỉ: Số X9, đường Y9, phường Z9, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt). Người"bào"chữa:" 1. Ông Huỳnh Lê Tường – Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Trần Phúc D. (Có mặt). 2. Ông Nguyễn Quang Vũ – Luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Trần Phúc D. (Có mặt). Người"giám"định:" 1. Ông Vũ Văn Dân, sinh năm 1973 – Giám định viên thuộc Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt). 2. Ông Nguyễn Phương Nam – Giám định viên thuộc Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 02 giờ 15 phút ngày 30/7/2016, Trần Phúc D. điều khiển xe gắn máy biển số 61S2-2190 phía sau chở anh Lê Xuân Qu. lưu thông trên đường N. hướng từ Q. về P., phường BN, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến giao lộ N. – K., Trần Phúc D. vượt đèn đỏ đã để phần đầu phía trước xe gắn máy biển số 61S2-2190 va chạm vào phần bên phải rơ mooc biển số 51R-081.61 của xe ô tô đầu kéo biển số 51C-549.46 do anh L. điều khiển lưu thông trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa hướng từ V. về A. Tai nạn xảy ra làm anh Qu. tử vong tại Bệnh viện nhân dân 115. Theo Bản kết luận giám định pháp y số 1089 ngày 22/8/2016 của Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh xác định nguyên nhân tử vong của Lê Xuân Qu. là: Đa chấn thương/Nồng độ ethanol trong máu cao (85mg/100ml>50mg/00ml máu). Kết quả xét nghiệm nồng độ ethanol trong máu của Trần Phúc D. là 1,52G/L.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Phúc D. không nhận là người điều khiển xe gắn máy biển số 61S2-2190.

Tại Kết luận giám định số 2998/C54B ngày 06/10/2016 của Phân viện KHHS – Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Các"dấu"vết"phía" trước"xe"mô"tô"biển"số"61S2-2190"có"chiều"từ"trước"về"sau"phù"hợp"với"các"dấu" vết"bánh,"cung"trước"chắn"bùn"bên"phải"1"trục"rơ"mooc"biển"số"51R-081.61"có" chiều"từ"phải"sang"trái,"dấu"vết"trên"bánh"xe"có"chiều"từ"mặt"lăn"vào"tâm"bánh" và"ngược"chiều"quay"tiến"của"bánh"xe."

Phía"trước"đầu"xe"mô"tô"biển"số"61S2-2190"va"chạm"với"cung"trước"chắn" bùn"bánh"trước"bên"phải"1"trục"rơ"mooc"biển"số"51R-081.61"là"vị"trí"va"chạm" đầu"tiên."

Trên"cơ"sở"cơ"chế"hình"thành"dấu"vết"và"hồ"sơ"vụ"tai"nạn"giao"thông"nên" trên,"xác"định:"Trần"Phúc"D."là"người"điều"khiển"xe"mô"tô"biển"số"61S2-2190" khi"tham"gia"tai"nạn"giao"thông”."

Ngày 01/12/2017, Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 384/CV/C54B giải thích và xác định các nguồn tài liệu đã sử dụng trong kết luận giám định số 2998/C54B ngày 06/10/2016 về vụ án “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” như sau: “Trong"quá"trình"giám"định"vụ"tai"nạn"giao"thông"nêu"trên:"Để"xác"định"người" điều"khiển"xe"mô"tô"biển"số"61S2-2190,"giám"định"viên"có"sử"dụng"đoạn"camera" ghi"nhận"hình"ảnh"quá"trình"xảy"ra"tai"nạn."Xem"đoạn"camera"ghi"nhận"diễn" biến" vụ" tai"nạn"giao" thông" đường" bộ" nêu" trên"do" Cơ" quan" Cảnh"sát" điều" tra" Công"an"Quận"1,"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"cung"cấp"thấy:"Khi"va"chạm"người" đội"nón"bảo"hiểm"02"sọc"trắng"nhô"lên"cao"va"chạm"với"ở"trên"cao"sẽ"văng"xa;" người"ngồi"trước"đội"nón"bảo"hiểm"một"sọc"trắng"bị"thấp"xuống"va"chạm"với" bánh"ngoài"bên"trục"1"rơ"mooc"ở"tầm"thấp,"do"vậy"văng"gần"hơn."Đó"là"cơ"sở" xác"định"đương"sự"Trần"Phúc"D."là"người"điều"khiển"xe"mô"tô"biển"số"61S2-2190”.

Lời khai anh Lê Thanh H. là nhân chứng trực tiếp chứng kiến diễn biến vụ tai nạn xác định bị can Trần Phúc D. là người điều khiển phương tiện xe mô tô biển số 61S2-2190 chở anh Lê Xuân Qu. vượt đèn đỏ gây tai nạn.

Do đó, với các tài liệu, chứng cứ nêu trên có cơ sở xác định vào thời điểm xảy a tai nạn, Trần Phúc D. là người điều khiển xe tham gia giao thông với nồng độ cồn 1,52g/1L khí thở không chấp hành tín hiệu đèn giao thông gây ra vụ tai nạn như đã nêu trên. Đối với ông Lê Văn Q. là cha ruột của anh Lê Xuân Qu., ông yêu cầu điều tra làm rõ và có hình thức xử lý đối với bị can Trần Phúc D.. Đối với anh Lê Xuân Qu. là người ngồi sau xe mô tô biển số 61S2-2190 không có lỗi, sau tai nạn đã tử vong. Đối với tài xế Ca Chí L. điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C-54946 kéo theo rơ mooc biển số 51R-08161 tham gia lưu thông đúng phần đường và tín hiệu đèn quy định nên không có lỗi. Tại Bản cáo trạng số 32/CTr-VKS ngày 09/01/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Trần Phúc D. về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 147/2017/HSST ngày 30/5/2017 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xử phạt Trần Phúc D. 03 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 451/2017/HSPT ngày 31/8/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tuyên xử: Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 147/2017/HSST ngày 30/5/2017 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục chung vì lý do:

- Người làm chứng ông Lê Văn X. và ông Nguyễn Nhựt L2. xác định nạn nhân Qu. chở bị cáo D..

- Kết luận giám định số 2998/C54B ngày 06/10/2016 chưa trưng cầu giám định hình ảnh camera ghi nhận hiện trường vụ án. Tại Bản cáo trạng số 69/CT-VKSNDQ1 ngày 26/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố bị cáo Trần Phúc D. về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2018/HSST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần Phúc D. phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Xử phạt bị cáo Trần Phúc D. 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2016.

Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về phần án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo D. kêu oan và cho rằng tại thời điểm xảy ra tai nạn, nạn nhân Lê Xuân Qu. là người điều khiển xe gắn máy, bị cáo là người ngồi sau nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 03 năm 06 tháng tù là oan cho bị cáo, bị cáo không phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt nội dung, phân tích tính chất vụ án, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Luật sư Nguyễn Quang Vũ không đồng ý với bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo. Theo luật sư bản Kết luận giám định số 2998/C54B không sử dụng hình ảnh camera để làm cơ sở kết luận, việc sau đó có sử dụng hình ảnh camera thì chỉ xem xét bằng mắt thường. Các Kết luận giám định không có cơ sở khoa học thuyết phục. Người làm chứng Nguyễn Đ2. không có địa chỉ rõ ràng nên không thể xem xét làm nguồn chứng cứ. Theo luật sư việc thu thập chứng cứ là nón bảo hiểm không đúng quy trình tố tụng nên đề nghị tuyên bố bị cáo D. không phạm tội.

Luật sư Huỳnh Lê Tường trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo D. cho rằng: Lời giải thích của giám định viên tại phiên tòa hôm nay không rõ ràng, chưa có sức thuyết phục. Luật sư nêu căn cứ vào hình ảnh đã được camera ghi nhận phù hợp với giao ước trước đó giữa bị cáo D. và Qu. là Qu. sẽ chở D. sau khi đi nhậu. Về việc này anh X. cũng có lời khai thấy từ quán ra thì Qu. là người chở D.. Theo luật sư người làm chứng Lê Thanh H. có lời khai bất nhất nên xin Hội đồng xét xử không chấp nhận lời khai của người làm chứng, tuyên bị cáo D. không phạm tội.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, giám định viên, luật sư và bị cáo.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo D. trình bày tại thời điểm xảy ra tai nạn, nạn nhân Lê Xuân Qu. là người điều khiển xe gắn máy, bị cáo là người ngồi sau nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 03 năm 06 tháng tù là oan cho bị cáo, bị cáo không phạm tội. Tuy nhiên, qua xét hỏi bị cáo D. thừa nhận sau tai nạn bị cáo là người ngã gần vị trí xe gắn máy ngã và còn tỉnh táo đi đứng được, còn anh Qu. bị té ra xa xe, bị thương chảy máu nằm bất tỉnh. Lời khai này của bị cáo D. phù hợp với lời khai của người làm chứng tại hiện trường là ông Ca Chí L. (tại các BL.85, 86). Ngoài ra, còn có lời khai của người làm chứng tại hiện trường là ông Lê Thanh H. (đang dừng đèn đỏ) được ghi nhận tại Công an phường BN, Quận 1 vào lúc 02 giờ 40 phút ngày 30/7/2016 ngay sau khi xảy ra tai nạn (BL.100) xác định Trần Phúc D. là người điều khiển xe mô tô biển số 6182-2190 vượt đèn đỏ gây tai nạn, khi đó D. chở anh Lê Xuân Qu. ngồi phía sau. Anh H. vẫn giữ nguyên lời khai này xuyên suốt trong quá trình điều tra, đã được cho đối chất với bị cáo và tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ 1 cũng như bản khai tại Tòa án trước khi xét xử sơ thẩm lần thứ 2 anh H. vẫn khẳng định “Anh D. là người điều khiển xe gắn máy, người ngồi trước sau khi tai nạn té gần xe, sau đó đứng dậy ra coi người ngồi sau té ra xa. Tôi xin cam đoan lời khai đúng sự thật”. Đối với lời khai của Lê Văn X.: Có thấy Qu. chở D. khi ra khỏi quán nhưng không nhìn thấy và không có mặt chứng kiến vụ tai nạn xảy ra (BL.500). Đối với lời khai của người làm chứng Nguyễn Nhựt L2. khai không để ý, không biết D. và Qu. đi về hướng nào và không chứng kiến vụ tai nạn xảy ra tại hiện trường. Đối với chữ ký của anh Nhựt L2. tại đơn xin xác nhận mà bị cáo D. nộp cho Hội đồng xét xử phúc thẩm ngày 31/8/2017 cho rằng Lê Xuân Qu. là người lái xe. Anh L. khai “D. có đến gặp tôi nhờ ghi xác nhận vào văn bản xác minh đề ngày 29/9/2016 với các nội dung trong văn bản cho D. soạn…” (BL.505). Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1089/TT.16 ngày 22/8/2016 của Trung tâm Pháp y – Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận nguyên nhân chết của anh Lê Xuân Qu. là do Đa chấn thương/Nồng độ Ethanol trong máu cao”. Tại Bản Kết luận giám định số 2998/C54B ngày 06/10/2016 do Thiếu tá Vũ Văn Dân và Đại úy Nguyễn Phương Nam – Giám định viên tư pháp về dấu vết cơ học thuộc Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện đã kết luận: “Các"dấu"vết"phía"trước"xe"mô"tô"biển"số"61S2-2190"có"chiều" từ"trước"về"sau"phù"hợp"với"các"dấu"vết"bánh,"cung"trước"chắn"bùn"bên"phải"1" trục"rơ"mooc"biển"số"51R-081.61"có"chiều"từ"phải"sang"trái,"dấu"vết"trên"bánh" xe"có"chiều"từ"mặt"lăn"vào"tâm"bánh"và"ngược"chiều"quay"tiến"của"bánh"xe." Phía"trước"đầu"xe"mô"tô"biển"số"61S2-2190"va"chạm"với"cung"trước"chắn" bùn"bánh"trước"bên"phải"1"trục"rơ"mooc"biển"số"51R-081.61"là"vị"trí"va"chạm" đầu"tiên." Trên"cơ"sở"cơ"chế"hình"thành"dấu"vết"và"hồ"sơ"vụ"tai"nạn"giao"thông"nêu" trên,"xác"định:"Trần"Phúc"D."là"người"điều"khiển"xe"mô"tô"biển"số"61S2-2190" khi"tham"gia"tai"nạn"giao"thông”." Tại Công văn số 384/CV/C54B ngày 01/12/2017 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh giải thích kết luận giám định số 2998/C54B ngày 06/10/2016 đã trả lời: “Trong"quá"trình"giám"định"vụ"tai"nạn"giao"thông" nêu"trên:"Để"xác"định"người"điều"khiển"xe"mô"tô"biển"số"61S2-2190,"giám"định" viên"có"sử"dụng"đoạn"camera"ghi"nhận"hình"ảnh"quá"trình"xảy"ra"tai"nạn."Xem" đoạn"camera"ghi"nhận"diễn"biến"vụ"tai"nạn"giao"thông"đường"bộ"nêu"trên"do"Cơ" quan" Cảnh" sát" điều" tra" Công" an" Quận" 1," Thành" phố" Hồ" Chí" Minh" cung" cấp" thấy:"Khi"va"chạm"người"đội"nón"bảo"hiểm"02"sọc"trắng"nhô"lên"cao"va"chạm" với"ở"trên"cao"sẽ"văng"xa;"người"ngồi"trước"đội"nón"bảo"hiểm"một"sọc"trắng"bị" thấp"xuống"va"chạm"với"bánh"ngoài"bên"trục"1"rơ"mooc"ở"tầm"thấp,"do"vậy"văng" gần"hơn."Đó"là"cơ"sở"xác"định"đương"sự"Trần"Phúc"D."là"người"điều"khiển"xe" mô"tô"biển"số"61S2-2190”.

[2] Với các chứng cứ như đã nêu trên, xét thấy mặc dù bị cáo D. không nhận tội nhưng căn cứ vào lời khai người làm chứng, Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Vào thời điểm xảy ra tai nạn Trần Phúc D. là người điều khiển xe tham gia giao thông với nồng độ cồn 1,52g/1l khí thở không chấp hành tín hiệu đèn giao thông gây ra vụ tai nạn nêu trên nênTòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đề nghị xem xét vì bị cáo không phạm tội. Căn cứ vào nội dung trả lời của Giám định viên tại phiên tòa, kết quả giám định đã dựa vào các nguồn giám định, đối tượng giám định và giám định viên là người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực giám định chịu trách nhiệm về Kết luận giám định của mình theo Điều 68 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên không chấp nhận lời bào chữa của luật sư. Ngoài ra, công văn của Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có đề nghị Sở giao thông vận tải cung cấp các camera hình ảnh tuyến đường N từ vòng xoay CH đến giao lộ N. – NN., phường BN, Quận 1 và căn cứ vào biên bản xác nhận dữ liệu camera của Trung tâm Quản lý đường hầm sông Sài Gòn đã xác định không có dữ liệu trên tuyến đường nêu trên từ 22 giờ ngày 29/7/2016 đến 03 giờ ngày 30/7/2016.

Từ đó, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” là có cơ sở, đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cũng không xuất trình được tình tiết gì khác để Hội đồng xét xử xem xét nhưng xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, cha bị cáo có đóng góp trong công cuộc xây dựng đất nước, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội nên giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ!luật Tố tụng hình sự năm 2015. 1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa bản án hình sự sơ thẩm. Tuyên bố bị cáo Trần Phúc D. phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng b khoản 2 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Trần Phúc D. 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2016. 2. Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ