- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 533/2020/HNGĐ – ST Ngày: 29/9/2020 V/v “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh
Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Cúc
2. Ông Nguyễn Đức Thắng
Thư ký Tòa án: Bà Lê Thị Thúy Hằng - thư ký Tòa án nhân dân Quận 10
Kiểm sát Vên Vện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh Hương - Kiểm sát Vên
Ngày 29 tháng 9 năm 2020 tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 150/2020/TLST- HNGĐ ngày 08
tháng 5 năm 2020, về “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14
tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên toà số: 145/2020/QĐST-HNGĐ ngày
04 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Vũ Thúy V, sinh năm 1988 (xin vắng mặt)
Thường trú: Số 153/25/11 Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Phan Bá T, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Thường trú: Số 153/25/11 Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 24/4/2020 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
là bà Nguyễn Vũ Thúy V trình bày:
Bà Nguyễn Vũ Thúy V và ông Phan Bá T sống chung từ năm 2013, có đăng
ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 30/2013, quyển số 1/2013
ngày 15/6/2013 tại Ủy ban nhân dân Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà V, ông T có một người con chung tên Phan Khả D (nữ) – sinh ngày
10/5/2015.
Cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình và cách
sống không hòa hợp. Ông T không chăm lo cuộc sống gia đình, sau nhiều lần hòa
giải, hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vợ chồng không có hạnh
phúc, không thể chung sống được nữa nên bà V yêu cầu giải quyết ly hôn với ông
Phan Bá T.
Trường hợp ly hôn:
- Về con chung: Bà V nhận nuôi con chung Phan Khả D và không yêu cầu
ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà V, ông T không có tài sản chung.
- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà V xác định vợ chồng
không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ
án và triệu tập hợp lệ bị đơn là ông Phan Bá T đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra Vệc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt, đồng thời nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải; Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn và không tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên tòa:
- Chủ tọa phiên tòa công bố: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị
đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do.
Chủ tọa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
- Đại diện Vện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:
Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm
nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia các buổi làm Vệc, không tham gia phiên họp kiểm tra Vệc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là đã tự từ bỏ quyền trình bày và cung cấp chứng cứ của mình.
Về nội dung vụ án:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy có cơ sở để chấp
nhận yêu cầu của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho bà V được ly hôn với ông T; giao con chung tên Phan Khả D (nữ) – sinh ngày 10/5/2015 cho bà V nuôi dưỡng.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của bà Nguyễn Vũ Thúy
V, xác định đây là vụ án dân sự về Vệc “Ly hôn”. Bị đơn cư trú tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng: Nguyên
đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa
hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến
hành xét xử vắng mặt tất cả nhưng người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều
238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét các yêu cầu của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Vũ Thúy V và ông Phan Bá T chung sống từ năm 2013, có đăng
ký kết hôn đúng quy định nên hôn nhân của họ là hợp pháp.
Theo bà V thì nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do tính tình và
cách sống không hòa hợp. Thời gian đã lâu đến nay không còn tình cảm, không thể
hàn gắn nên bà V yêu cầu giải quyết ly hôn với ông T. Xét thấy cuộc sống chung
không đem lại hạnh phúc cho bà V, mục đích hôn nhân không đạt được, ông T
không đến Tòa án để hòa giải chứng tỏ ông T cũng không còn quan tâm đến cuộc
sống chung. Vợ chồng không có sự quan tâm chia sẻ gắn bó lẫn nhau, do đó Hội
đồng xét xử thống nhất quan điểm của đại diện Vện kiểm sát nhân dân Quận 10 là
chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà V được ly hôn với ông T.
- Về con chung: Bà V có yêu cầu được nuôi con chung tên Phan Khả D (nữ)
– sinh ngày 10/5/2015; Xét thấy, trẻ Dương còn nhỏ cần được sự chăm sóc của mẹ
và Hội đồng xét xử xét thấy bà V có đủ khả năng nuôi con nên chấp nhận giao
người con chung là trẻ Dương cho bà V nuôi dưỡng. Ghi nhận Vệc bà V không yêu
cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà V khai bà và ông T không có tài sản chung nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà V xác định bà và ông
T không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai.
Về án phí: Bà Nguyễn Vũ Thúy V chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự;
- Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110,
Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Vũ Thúy V.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Vũ Thúy V được ly hôn với ông Phan Bá
T.
- Về con chung:
Giao người con chung tên Phan Khả D (nữ) – sinh ngày 10/5/2015 cho bà
Nguyễn Vũ Thúy V trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà V không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Vệc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; nghĩa
vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng hoặc phương thức cấp dưỡng nuôi con theo qui định tại các Điều 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Vũ Thúy V khai không có, không yêu cầu
giải quyết nên Tòa án không xét.
- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Vũ Thúy V
xác định vợ chồng không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Vũ Thúy V chịu án phí dân sự sơ thẩm
số tiền là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số: AA/2019/0014490 ngày 29/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 , Thành phố Hồ Chí Minh. Bà V đã nộp đủ tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Vũ Thúy V, ông Phan Bá T có quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TANDTP -VKSNDTP; - VSKND Quận 10; - Chi cục THA Dân sự Quận 10; - UBND P.5, Q.10 (để ghi vào sổ hộ tịch) ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đức Anh |