vanban.org

Bản án 531/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Liên P về việc cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Liên P và ông Phan Văn Đ. Kể từ ngày Bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 49, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/4/2015 cho bà N… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 531/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 5 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Phước Trinh;

2. Bà Phạm Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.

Trong ngày 15 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1449/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 210/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Liên P, sinh năm 1995;

Nơi đăng ký thường trú: Số B Đường số B, Tổ E, ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1990;

Nơi đăng ký thường trú: Số A, Hẻm S Đường số B, Tổ E, ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 29/11/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Liên P trình bày:

Bà và ông Phan Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, cùng nhau làm việc xây dựng gia đình, nuôi dưỡng, dạy dỗ con chung. Tuy nhiên, sau này thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp nhau nên thường xuyên cãi vã, đánh nhau; hai bên không còn tôn trọng ý kiến của nhau nhưng bà cố gắng sống vì con. Tuy nhiên, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng từ năm 2024 đến nay. Bà và ông Đ đã ly thân 01 năm. Nay bà xác định không còn tình cảm vợ chồng và không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân với ông Đ nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Văn Đ.

Về con chung: Bà và ông Đ có 02 (hai) con chung tên Phan Tiến T, sinh ngày 12/4/2016 và Phan Tiến Đ1, sinh ngày 10/01/2021. Con chung hiện đang sống với bà P và bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà P xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà P xác định không có.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông Phan Văn Đ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Đ đều vắng mặt.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Liên P giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn Đ; về con chung: Bà P yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Phan Tiến T, sinh ngày 12/4/2016 và Phan Tiến Đ1, sinh ngày 10/01/2021, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Bà Nguyễn Thị Liên P yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Văn Đ; bà và ông Đ có 02 (hai) con chung tên Phan Tiến T, sinh ngày 12/4/2016 và Phan Tiến Đ1, sinh ngày 10/01/2021; bà P yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nghĩa vụ dân sự chung: Không có. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn là ông Phan Văn Đ cư trú tại Số A, Hẻm S Đường số B, Tổ E, ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng:

Bị đơn là ông Phan Văn Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Phan Văn Đ theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Liên P và ông Phan Văn Đ tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 49, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ chí Minh cấp ngày 04/4/2015. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét trình bày của bà P, bà và ông Phan Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, cùng nhau làm việc xây dựng gia đình, nuôi dưỡng, dạy dỗ con chung. Tuy nhiên, sau này thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp nhau nên thường xuyên cãi vã, đánh nhau; hai bên không còn tôn trọng ý kiến của nhau nhưng bà cố gắng quan hệ hôn nhân vì con. Tuy nhiên, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng từ năm 2024 đến nay. Bà và ông Đ đã ly thân 01 năm. Nay bà xác định không còn tình cảm vợ chồng và không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân với ông Đ nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Văn Đ.

Ông Phan Văn Đ không đến Tòa án theo giấy triệu tập để cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ cho thấy ông Đ không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng cùng với bà P. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét các tài liệu, chứng cứ do bà P cung cấp để giải quyết vụ án. Xét tình trạng quan hệ vợ chồng giữa bà P và ông Đ đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà P được ly hôn với ông Đ là có cơ sở.

Về con chung:

Bà P và ông Đ có 02 (hai) con chung tên Phan Tiến T, sinh ngày 12/4/2016 và Phan Tiến Đ1, sinh ngày 10/01/2021. Bà P yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Xét 02 con chung hiện do bà P nuôi dưỡng, giáo dục. Hơn nữa, tại bản tự khai ngày 14/01/2025, trẻ Phan Tiến T trình bày nguyện vọng được sống với bà P. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Phan Tiến T và Phan Tiến Đ1 cho bà P tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà P không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đây là sự tự nguyện của bà P, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Nếu sau này bà P có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sẽ được Tòa án giải quyết trong vụ án khác.

Về tài sản chung: Bà P xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà P xác định không có.

Ông Phan Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, nếu ông Đ có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung sẽ được giải quyết trong vụ án khác.

Về nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà Nguyễn Thị Liên P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Liên P về việc cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Liên P và ông Phan Văn Đ.

Kể từ ngày Bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 49, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/4/2015 cho bà Nguyễn Thị Liên P và ông Phan Văn Đ không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung:

Bà Nguyễn Thị Liên P và ông Phan Văn Đ có 02 (hai) con chung tên Phan Tiến T, sinh ngày 12/4/2016 và Phan Tiến Đ1, sinh ngày 10/01/2021.

Giao 02 con chung tên Phan Tiến T và Phan Tiến Đ1 cho bà P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà P không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84, Khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

5. Về án phí sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Liên P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0063202 ngày 18/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

6. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ