- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông Q xin ly hôn với bà N"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trương Tuấn Q
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 531/2022/HNGĐ-ST Ngày: 21/12/2022 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Việt Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Phước Tân;
2. Bà Nguyễn Thị Lợi;
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 421/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 781/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 843/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trương Tuấn Q, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thúy N, sinh năm 1975; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
(Ông Q có đơn xin vắng mặt, bà N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Trương Tuấn Q trình bày: Ông và bà Nguyễn Thúy N do tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trường, huyện A, tỉnh An Giang. Cuộc sống hôn nhân phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà N có quan hệ tình cảm vợ chồng với người khác, ông và bà N thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung, hiện cả hai đã ly thân. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn bà N.
Về con chung: Ông và bà N không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho bà N theo quy định nhưng bà N không có mặt theo các thông báo của Tòa án.
Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:
Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú của bà N thì xác định bà N vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Theo biên bản ghi lời khai ngày 07/11/2022, bà Trương Thị Mỹ L cho biết: Bà là chị ruột của ông Q, bà N là vợ ông Q. Trong quá trình chung sống bà N có người đàn ông khác, gia đình hai bên cũng không muốn hàn gắn.
Tại phiên tòa, ông Q vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Riêng bà N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Quan điểm Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong việc ghi lời khai, hòa giải, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà N. Đồng thời, bà N cư trú trên địa bàn huyện A. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.
[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Ông Q vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà N được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa ông Q, bà N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trường theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên thụ lý, giải quyết theo Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của ông Q xin ly hôn với bà N, Hội đồng xét xử xét thấy thời gian ly thân giữa ông Q và bà N đã lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn. Lời trình bày của ông Q phù hợp với lời trình bày của bà Liên (chị ruột ông Q. Xét thấy mâu thuẫn của ông Q và bà N không thể hàn gắn nên Hội đồng xét xử chấp nhận ly hôn theo yêu cầu của ông Q theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Ông Q xác định không có nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 thì ông Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
Bà N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trương Tuấn Q
Về hôn nhân: Ông Trương Tuấn Q được ly hôn với Nguyễn Thúy N.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 10 ngày 03/02/2021 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí: Ông Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007114 ngày 28/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. (ông Q nộp đủ án phí)
Về quyền kháng cáo: Án tuyên vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Ông Q, bà N được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh AG (1); - VKS tỉnh AG (1); - VKS huyện AP (2); - THADS huyện AP (1); - UBND xã V(1); - Các đương sự (2); - Lưu VP (1); - Lưu HS (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Việt Quốc |