- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1- Về hôn nhân: ông Vũ K D được ly hôn bà Hoàng Thị X.
- Căn cứ chính? Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 531/2021/ST-HNGĐ Ngày: 30.11.2021 V/v: tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng
2. Ông Đặng Như Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Phương Ánh Nguyệt
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng-Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 367/2021/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2021 về tranh chấp “xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 388/2021/QĐXX-ST ngày 02 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Vũ K D, sinh năm 1977; Chứng minh nhân dân số: xxxxxxxx cấp ngày 15/09/2017; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ *, cụm *, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội; Nơi đăng ký tạm trú hiện nay: tổ *, cụm *, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Số điện thoại liên hệ: 098946****; có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Bà Hoàng Thị X, sinh năm 1976; Chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 07/06/2019; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: tổ *, cụm *, phường K, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội; số điện thoại liên hệ: 097636****; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 02 tháng 7 năm 2021, ông Vũ K D có đơn khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình, yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
Về hôn nhân: xin ly hôn với bà Hoàng Thị X.
Về con: Ông Vũ K D và bà Hoàng Thị X có 02 con chung là Vũ Thị K P (giới tính: nữ), sinh ngày 06.9.2003 và Vũ Khánh N (giới tính: nam), sinh ngày 03.12.2009;
Khi ly hôn có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Khánh N, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản, nhà ở, vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về án phí: Ông Vũ K D tự nguyện chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự thống nhất nội dung vụ án như sau:
Về hôn nhân: hai bên đăng ký kết hôn ngày 31.3.2003 tại Ủy ban nhân dân phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm lối sống, không hợp nhau về cách sống. Từ khi ông Vũ K D nộp đơn xin ly hôn, hai bên đã chính thức sống ly thân, ông Vũ K D ở hẳn tại đơn vị quân đội, chỉ thỉnh thoảng về nhà thăm gia đình và các con. Ông Vũ K D xác định mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Hoàng Thị X. Bà Hoàng Thị X không đồng ý ly hôn do con còn nhỏ.
Về con: Có 02 con chung là Vũ Thị K P (giới tính: nữ), sinh ngày 06.9.2003 và Vũ Khánh N (giới tính: nam), sinh ngày 03.12.2009;
Khi ly hôn cả hai bên đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Khánh N, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp cháu Vũ Khánh N (giới tính: nam), sinh ngày 03.12.2009 muốn ở với mẹ, Tòa án giao con cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng thì ông Vũ K D tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng.
+ Về tài sản, nhà ở, vay nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về án phí: ông Vũ K D tự nguyện chịu toàn bộ án phí xin ly hôn của vụ án, bao gồm cả phần bà Hoàng Thị X phải chịu.
Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã xuất trình các tài liệu, chứng cứ sau:
1- 01 Giấy chứng nhận kết hôn (bản trích lục).
2- Bản sao Giấy khai sinh của con (bản sao).
3- Bản sao sổ hộ khẩu (bản sao)
4- Giấy tờ nhân thân khác.
Tại phiên tòa hôm nay,
Ông Vũ K D có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, giữ nguyên các ý kiến đã tình bày tại Tòa án.
Bà Hoàng Thị X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự giải quyết vụ án; các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Vũ K D đối với bà Hoàng Thị X; Ông Vũ K D được ly hôn với bà Hoàng Thị X. Về con: xác nhận ông Vũ K D và bà Hoàng Thị X có 02 con chung là Vũ Thị K P (giới tính: nữ), sinh ngày 06.9.2003 và Vũ Khánh N(giới tính: nam), sinh ngày 03.12.2009; cháu Vũ Thị K P đã trưởng thành, việc ở với ai do cháu tự quyết định; giao con chung Vũ Khánh Ncho bà Hoàng Thị X trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của ông Vũ K D cấp dưỡng nuôi con cho bà Hoàng Thị X 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 12.2021 cho đến khi có sự thay đổi khác; ông Vũ K D có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung không ai được ngăn cản; về tài sản, nhà ở: ông Vũ K D và bà Hoàng Thị X không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về án phí: ông Vũ K D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: ông Vũ K D xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ, xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Ông Vũ K D có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bà Hoàng Thị X đã được Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do; căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các bên đương sự.
Về hôn nhân: Ông Vũ K D và bà Hoàng Thị X kết hôn tự nguyện, không vi phạm điều cấm nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, hai bên đương sự cùng xác định mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, đã sống ly thân, ông Vũ K D đã ở hẳn trong đơn vị quân đội nơi mình công tác; bà Hoàng Thị X ở nhà cùng với các con; hôn nhân chỉ tồn tại về mặt hình thức, ông Vũ K D xin ly hôn, bà Hoàng Thị X không đồng ý vì con còn nhỏ. Hội đồng xét xử xét thấy, hai bên đương sự đều xác nhận vợ chồng mâu thuẫn dẫn đến việc sống ly thân, lý do không đồng ý ly hôn vì con còn nhỏ không thuộc trường hợp hạn chế ly hôn theo quy định của pháp luật, không phải lý do chính đáng để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bản thân bà Hoàng Thị X sau buổi hòa giải lần thứ nhất, Tòa án tạo điều kiện để hai bên tự hòa giải và tham gia buổi hòa giải lần thứ hai tại Tòa án nhưng đã vắng mặt không có lý do, thể hiện thái độ không hợp tác với chính cuộc hôn nhân của mình. Do đó, có căn cứ để Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Vũ K D là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015.
Về con chung: Ông Vũ K D và bà Hoàng Thị X Có 02 con chung là Vũ Thị K P (giới tính: nữ), sinh ngày 06.9.2003 và Vũ Khánh N (giới tính: nam), sinh ngày 03.12.2009.
Con chung Vũ Thị K P đã trưởng thành, không thuộc trường hợp phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Vũ Khánh N, khi ly hôn cả hai bên đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của vợ chồng khi ly hôn là nguyện vọng chính đáng của người làm cha, làm mẹ. Khi hai bên không thống nhất được việc giao nuôi dưỡng con chung, Tòa án xem xét đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho đứa trẻ. Kể từ khi vợ chồng mâu thuẫn, con chung do bà Hoàng Thị X trực tiếp nuôi dưỡng. Để đảm bảo sự ổn định, tránh xáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt và học hành, khi giải quyết yêu cầu xin ly hôn, theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, Hội đồng xét xử xét thấy, cần cần giao con chung cho bà Hoàng Thị X trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: bà Hoàng Thị X không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, ông Vũ K D tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cho bà Hoàng Thị X 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 11.2021 cho đến khi con chung trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác. Sự tự nguyện của ông Vũ K D là phù hợp với pháp luật nên ghi nhận.
Về tài sản: Bà Hoàng Thị X và ông Vũ K D không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản khi ly hôn nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ông Vũ K D phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Căn cứ vào Điều 28, 63, 227, 220, 264, 266, 267, 273, 278, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 19, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
1- Về hôn nhân: ông Vũ K D được ly hôn bà Hoàng Thị X.
2- Về nuôi con chung:
2.1. Con chung là Vũ Thị K P (giới tính: nữ), sinh ngày 06.9.2003 đã trưởng thành, tòa án không giải quyết giao nuôi con.
Giao con chung Vũ Khánh N (giới tính: nam), sinh ngày 03.12.2009 cho bà Hoàng Thị X trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Vũ K D cấp dưỡng nuôi con cho bà Hoàng Thị X 5.000.000 đồng (năm triệu đồng/một tháng) kể từ tháng 12.2021 cho đến khi con chung trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác.
Ông Vũ K D có quyền và nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
3- Về chia tài sản: ông Vũ K D và bà Hoàng Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4- Về án phí: Ông Vũ K D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006862 ngày 12.7.2021 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Ông Vũ K D còn phải nộp 300.000 đồng.
Án xử công khai sơ thẩm. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN
THẨM PHÁN
HỘI THẨM NHÂN
DÂN
DÂN
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân; - Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu. | Phương Thảo |