- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Phi L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Phi L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 530/2021/HS-ST Ngày 13-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Chánh
2. Bà Thiều Thị Phi Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Hạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 552/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 544/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2021, đối với:
- Bị cáo: Cao Phi L, sinh năm 1978 tại Hà Nội; nơi cư trú: Sống lang thang tại khu vực nghĩa trang Phật giáo thuộc Phường T, thành phố B; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha: Không rõ; họ tên mẹ: Không rõ; bị cáo không có anh chị em và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 21/6/2021, chuyển tạm giam theo Lệnh số 863 ngày 29/6/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố Biên Hòa
(Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Phi L là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 11 giờ 45 phút
ngày 21/6/2021, L đi bộ đến khu vực Khu phố 9, phường T, thành phố B, mua của người đàn ông (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) và L được cho thêm 01 gói ma túy. Sau đó, L cất giấu số ma túy trên vào trong miệng rồi đi đến nhà nghỉ H, địa chỉ Phường H, thành phố B, thuê phòng số 19 để sử dụng ma túy. Khi vào phòng, L cất giấu số ma túy dưới cục xà bông để trên bàn uống nước. Vào khoảng 12 giờ 20 phút ngày 21/6/2021, Vũ Văn Q (sinh năm 1981, thường trú tại Phường H, thành phố B) và Nguyễn Duy T (sinh năm 1998, thường trú tại Phường T, thành phố B) đến ngồi chơi nói chuyện với L. Q và T không biết L cất giấu ma túy trong phòng.
Đến khoảng 12 giờ 25 phút cùng ngày, khi L cùng với Q và T đang ở trong phòng số 19 của nhà nghỉ H thì bị Công an phường H kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Tại Cơ quan điều tra, Cao Phi L khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng gồm:
02 (hai) gói nilon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng (Cao Phi L khai là ma túy tổng hợp - hàng đá) đã được niêm phong có chữ ký của L và dấu mộc của Công an phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa.
Tại Kết luận giám định số 1329/KLGĐ-PC09 ngày 27/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận như sau: “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2397 gam, loại Methamphetamine.”
Tại Cáo trạng số: 560/CT-VKSBH ngày 05/11/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Cao Phi L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c, Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;
- Áp dụng Điểm c, Khoản 1 Điều 249 và Điểm s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Cao Phi L từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/11/2021, bị cáo Cao Phi L có đơn xin xét xử vắng mặt, đơn của bị cáo đã được Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa xác nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Bị cáo Cao Phi L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ngày 30/11/2021, bị cáo Cao Phi L có đơn xin xét xử vắng mặt, đơn của bị cáo đã được Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa xác nhận. Căn cứ vào Điểm c, Khoản 2, Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo.
Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội: Theo như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị cáo Cao Phi L thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 12 giờ 25 phút ngày 21/6/2021, tại phòng số 19 nhà nghỉ H, địa chỉ Phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Cao Phi L có hành vi tàng trữ trái phép 0,2397 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị Công an phường T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Biên Hòa điều tra, xử lý theo quy định.
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ khả năng để nhận thức tác hại của ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu riêng của bản thân, bị cáo vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Cao Phi L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c, Khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản Cáo trạng số 560/CT-VKSBH ngày 05/11/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Cao Phi L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có T độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự được quy định tại Điểm s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Cao Phi L để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
Về các vấn đề khác liên quan đến nội dung vụ án:
Đối với Vũ Văn Q, Q khai đến nhà nghỉ H gặp L đưa L mượn tiền để trả tiền nhà nghỉ. Đối với Nguyễn Duy T, T khai đến nhà nghỉ H đi ngang qua gặp L trong phòng số 19 nên vào nói chuyện. Cao Phi L cũng thừa nhận Q và T không biết việc L mua ma túy và cất giấu trong phòng nghỉ. Kết quả điều tra xác định, Vũ Văn Q và Nguyễn Duy T không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của L nên không xử lý là phù hợp.
Đối với đối tượng chưa rõ lai lịch có hành vi bán ma túy cho L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Về vật chứng:
Vật chứng được kết luận là ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số lượng 0,1958 gam ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Biên Hòa thu giữ sau giám định.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Cao Phi L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và đề xuất mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Đối với phần trình bày của bị cáo:
Ngày 30/11/2021, bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn bị cáo thừa nhận hành vi và tội danh như cáo trạng đã nêu và xin giảm nhẹ hình phạt. Đối với phần trình bày của bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Cao Phi L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng Điểm c, Khoản 1, Điều 249; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Cao Phi L 01 (một) năm tù; thời hạn tù được tính từ ngày 21 tháng 6 năm 2021.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm c, Khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số lượng 0,1958 gam ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Biên Hòa thu giữ sau giám định.
Các vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi Cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13 tháng 12 năm 2021.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Cao Phi L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo Cao Phi L được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an TP Biên Hòa; - Cơ quan THAHS – Công an TP Biên Hòa; - Phòng HSNV - Công an TP Biên Hòa; - Chi Cục THADS TP Biên Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng và Thẩm phán. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Duyên |