- Tranh chấp gì? "Lê Chí C tàng trữ trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Chí C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án s : 53/2021/HS-ST Ngày: 24-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH N D N THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh và bà Nguyễn Thanh Thảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Thư ký Tòa án nh n d n thành ph Sa Đ c
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố a Đéc tham gia phiên tòa: Ông Biện Công Năm – Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nh n d n thành ph Sa Đ c, tỉnh Đồng Tháp x t xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s 49/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử s 50/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2021 đ i với bị cáo:
Họ và tên: Lê Chí C; sinh năm 1988 tại thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
Nơi cư trú: Ấp P, xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
Chổ ở: Khóm L, Phường A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
Nghề nghiệp: Không;
Trình độ học vấn: 10/12
D n tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không ; qu c tịch: Việt Nam
Con ông: Lê Văn N, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1959
Anh, chị, em: 01 người, sinh năm 1983
Vợ, con: chưa có
Tiền sự: không
Tiền án: có 01tiền án
Ngày 26/7/2018 bị Toà án nh n d n thành ph Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt vào ngày 02/10/2019.
Nhân thân: Ngày 11/9/2014 bị Toà án nh n d n thành ph Sa Đ c, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 24/4/2015.
Tạm giữ, tạm giam: không
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1959 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp P, xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
2. Chị Bùi Ngọc H, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm I, Phường A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Chí C là người nghiện ma túy.
Vào khoảng 7 giờ 30 phút ngày 28/8/2021 C điều khiển xe mô tô biển s 52K5-0018 đến ấp P, xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp tìm gặp 01 người thanh niên tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) để mua ma tuý về sử dụng, khi gặp T1 thì C hỏi mua 01 bịch ma tuý với giá 200.000 đồng và 01 bịch ma tuý với giá 800.000 đồng, được T1 đồng ý và giao cho C 02 bịch ma tuý để vào 02 gói thu c lá Jet, C trả cho T1 nhận 200.000 đồng, còn nợ lại 800.000 đồng. Sau khi nhận được 02 bịch ma tuý, C cất vào túi áo khoác 01 bịch, vào túi quần 01 bịch rồi điều khiển xe đi về.
Đến khoảng 08 giờ 35 phút cùng ngày, C điều khiển xe mô tô đến ấp P, xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp thì gặp lực lượng Công an tuần tra yêu cầu dừng xe để kiểm tra.
Qua kiểm tra phát hiện lập biên bản quả tang, thu giữ của C gồm:
+ 01 vỏ thu c lá hiệu Jet bên trong có 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma tuý) trong túi áo khoác bên phải.
+ 01 vỏ thu c lá hiệu Jet bên trong có 01 bịch nylon màu trắng có nắp kẹp một đầu chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma tuý) dưới ghế đá C đang ngồi, do C lấy từ túi quần ra rồi n m dưới ghế đá.
+ 01 xe mô tô biển s 52K5-0018;
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Model A51;
+ S tiền 300.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định s 802/KL-KTHS ngày 30/08/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận:
Tinh thể rắn chứa trong 02 bịch nylon màu trắng (trong đó 01 bịch nylon dạng nắp kẹp một đầu và 01 bịch nylon hàn kín), được niêm phong trong phong bì gửi giám định là chất ma túy, có kh i lượng 2,519 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra xác định: xe mô tô biển s 52K5-0018 thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị T (mẹ của C) để ở nhà C tự ý lấy sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội của C, nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho bà T nhận xong.
Đ i với điện thoại di động hiệu Samsung Model A51 C mượn của chị Bùi Ngọc H, nên cơ quan Cảnh sát điều tra đã hoàn trả lại cho chị H nhận xong.
Tại bản cáo trạng s 50/CT-VKSTPSĐ ngày 22/10/2021, Viện kiểm sát nh n d n thành ph Sa Đ c đã truy t bị cáo Lê Chí C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nh n d n thành ph Sa Đ c trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy t và đề nghị:
- Về hình phạt chính: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Chí C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định như sau:
Về thủ tục t tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục t tụng của Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t , điều tra, truy t . Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia t tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan t tụng và người tiến hành t tụng nên các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang được lập lúc 8 giờ 35 phút ngày 28/8/2021 của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy thuộc Công an thành ph Sa Đ c, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được, phù hợp với kết luận giám định s 802/KL-KTHS ngày 30/8/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Qua đó đủ cơ sở xác định: Khoảng 8 giờ 35 phút ngày 28/8/2021 tại ấp P, xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp, Lê Chí C có hành vi cất giấu tàng trữ trong người ma túy có kh i lượng 2,519 gam, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Theo Danh mục II ban hành kèm Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ thì Methamphetamine là một trong những chất ma túy, chất hướng thần độc hại, bị cấm sử dụng trái ph p, các chất này chỉ được sử dụng trong ph n tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm, trong lĩnh vực y tế và phải theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền.
Bị cáo là người đã thành niên nên có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được rằng ma túy là các chất g y nghiện, chất hướng thần, là chất độc hại. Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái ph p , vì ma túy s làm ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe, ý chí phấn đấu của người sử dụng. Thế nhưng, do tư tưởng xấu, không biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, nên vào ngày 28/8/2021 bị cáo đã có hành vi đi mua ma túy cất giấu trong người đem về sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Vật chứng bị thu giữ là Methamphetamine có tổng kh i lượng là 2,519 gam.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, trực tiếp x m phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Hành vi đó là nguyên nh n dẫn đến các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác như: trộm cắp, cướp giật, góp phần làm gia tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Bị cáo phạm tội với lỗi c ý, động cơ mục đích phạm tội nhằm để thỏa mãn cơn nghiện của bản th n, thủ đoạn thực hiện tội phạm của bị cáo là hết sức táo bạo và liều lĩnh: Thời gian phạm tội là vào ban ngày, địa điểm phạm tội là tại ấp P, xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp thuộc khu vực có đông d n cư. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào thời điểm thực hiện áp dụng các biện pháp phòng ch ng COVID-19, thực hiện giãn cách xã hội, người dân chỉ ra đường khi thật sự cần thiết và có nhiều ch t kiểm dịch nếu bị cáo mua ma túy cất giấu trong người đi về nhà để sử dụng s dễ bị phát hiện và bị bắt nhưng bị cáo không sợ sệt, không sợ bị phát hiện, sau đó bị cáo bị Công an kiểm tra phát hiện và bị bắt.
Bị cáo là người đã thành niên, bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma tuý” nên bị cáo đã được học tập, giáo dục, cải tạo biết được việc gì pháp luật cho ph p, việc gì pháp luật cấm. L ra bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, c gắng lao động để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu bản th n và phụ giúp gia đình. Thế nhưng với l i s ng thích hưởng thụ, chỉ biết s ng cho bản th n, bị cáo đã tiếp tục sử dụng ma túy và trở thành đ i tượng nghiện nên bị cáo mua ma túy đem về nhà cất giấu sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái ph p chất ma túy để rồi một lần nữa đi vào con đường phạm tội.
Từ những ph n tích trên cho thấy hành vi của bị cáo đủ yếu t cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ………
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
d)…………”
X t thấy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, x m phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. X t thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng x t xử x t thấy cần xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công d n t t, tu dưỡng bản th n, có ý thức chấp hành pháp luật, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung:
Hội đồng x t xử x t thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đ i với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tiền án về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma tuý” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, vì vậy cần áp dụng Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự để xem xét trong việc lượng hình đ i với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ: X t thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải, vì vậy cần áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem x t giảm nhẹ một phần mức hình phạt đ i với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng:
- Đ i với kh i lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.
- Đ i với s tiền 300.000 đồng của bị cáo C, cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Hiện tiền và vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án d n sự thành ph Sa Đ c đang quản lý).
Về án phí: Bị cáo Lê Chí C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đ i với người thanh niên tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) bán ma túy cho C, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành ph Sa Đ c tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Chí C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Chí C mức án 02 năm 06 tháng tù (Hai năm sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật T tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 phong bì được niêm phong ghi "Niêm phong s 808, ngày 28/8/2021" có đóng hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi họ tên Trương Minh V, Nguyễn Văn B N1, Đặng Thanh D1, Lê Chí C;
+ 02 vỏ gói thu c lá Jet.
- Tiếp tục quản lý: S tiền 300.000 đồng của bị cáo Lê Chí C để đảm bảo thi hành án.
(Hiện tiền và các vật chứng trên do Chi cục Thi hành án d n sự thành ph Sa Đ c đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/10/2021).
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016
Bị cáo Lê Chí C nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nh n d n tỉnh Đồng Tháp.
| Nơi nhận: - Tòa án nh n d n tỉnh ĐT; (1b) - VKSND TP Sa Đ c; (2b) - Công an TP Sa Đ c; (4b) - Chi cục THA TP Sa Đ c; (1b) - Sở Tư pháp; (1b) - Thi hành án phạt tù; (1b) - Những người tham gia t tụng; (1b) - Lưu VT, TP; (2b) - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Bé Mười |