vanban.org

Bản án 53/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

VKSND khu vực 5-TN; VKSND tỉnh Thái Nguyên; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn T "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5
THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2026/HS-ST
Ngày: 17-6-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Hữu Nhường Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Hải 2. Bà Trịnh Thị Phương

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thúy Vi - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Thêu - Kiểm sát viên. Ngày 17 tháng 6 năm 2026 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2026/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2026/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo: Họ và tên: Triệu Văn T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/6/1988 tại tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Triệu Tiến T1 và con bà Bàn Thị M; Có vợ: Bàn Thị T2 và 03 con; Gia đình có 12 anh chị em, bị cáo là con thứ mười hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam - Có mặt tại phiên tòa. Bị hại: Ông Đường Phi H1 (đã chết). Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

- Anh Đường P, sinh năm 1998 (con ruột bị hại).

- Chị Đường Thị H, sinh năm 2000 (con ruột bị hại). Cùng nơi cư trú: Tổ Cam Giá 8, phường Gia Sàng, tỉnh Thái Nguyên. (Bị hại Đường Phi Hùng đã ly hôn vợ, còn bố mẹ ông Đường Phi H1 đều đã chết). Anh Đường Phi H2 và chị Đường Thị H ủy quyền cho ông Đường Minh Đ, sinh năm 1976, trú tại xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên tham gia tố tụng - Ông Đ có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 05 giờ 15 phút ngày 12/12/2025, Triệu Văn T là người có giấy phép lái xe ô tô hạng C, do Công an tỉnh T cấp ngày 30/6/2025 có thời hạn đến ngày 30/6/2030, điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 20C-245.60 đi theo đường Q, hướng Thái Nguyên - Lạng Sơn, khi đi đến Km 107 + 700 (tại vị trí ngã tư, có đèn tín hiệu giao thông đang hiển thị tín hiệu màu vàng - cảnh báo nguy hiểm) thuộc xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ ở nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ nên phần đầu xe ô tô bên trái do T điều khiển đã đâm va vào ông Đường Phi H1, sinh năm 1964, trú tại xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên đi bộ từ bên trái sang bên phải và đang đứng ở giữa lòng đường làm ông H1 ngã xuống đường và bị bánh xe phía trước bên trái lăn qua người, thấy vậy T lùi xe lại khoảng 20cm, bật đèn cảnh báo rồi xuống xe kiểm tra thấy ông H1 đã chết nên T đến Công an xã V trình báo. Hậu quả ông H1 chết tại hiện trường, xe ô tô của T bị hư hỏng nhẹ. Cùng ngày cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, kết quả như sau: Khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn được trải nhựa thẳng, phẳng, có bề rộng mặt đường là 14,0m. Phía trước hiện trường hướng Thái Nguyên - Lạng Sơn là ngã tư giao nhau có đèn tín hiệu giao thông, ở giữa đường có vạch sơn liền nét và đứt quãng chia đường thành hai chiều xe chạy ngược nhau. Trên đường có vạch sơn trắng dành cho người đi bộ qua đường, có vạch gờ giảm tốc màu vàng ở hai bên đầu đường trước khu vực ngã tư giao nhau. Xác định điểm mốc và một trong các mép đường làm chuẩn:

- Lấy cột điện số 1.4 nằm bên phải đường theo hướng Lạng Sơn - Thái Nguyên làm điểm mốc.

- Lấy mép phải đường QL1B, hướng từ Lạng Sơn - Thái Nguyên làm mép chuẩn. Mô tả theo số thứ tự:

- Ký hiệu (1) là vết trượt lốp màu đen trên mặt đường có chiều dài 16,80m, đoạn trượt lốp kép có chiều dài 13,50m, bề rộng 0,50m, đoạn trượt lốp đơn có chiều dài 3,30m, bề rộng 0,20m, vết trượt có hướng từ Thái Nguyên - Lạng Sơn. Đo từ điểm đầu (1) cách mép chuẩn là 7,0m, điểm cuối (1) trùng với tử thi. Đo vuông góc từ điểm đầu (1) đến mép vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường hướng Thái Nguyên là 4,80m. Đo vuông góc từ điểm đầu (1) đến điểm đầu (2) là 1,0m.

- Ký hiệu (2) là vết trượt lốp màu đen trên mặt đường có chiều dài 14,80m, bề rộng nhất là 0,50m. Đoạn trượt lốp kép có chiều dài 12,0m, bề rộng 0,50m, đoạn trượt lốp đơn có chiều dài 2,80m, bề rộng 0,20m,vết trượt có hướng Thái Nguyên - Lạng Sơn. Đo từ điểm đầu (2) và điểm cuối (2) cách mép chuẩn lần lượt là 8,90m và 8,40m. Đo vuông góc từ điểm đầu (2) đến tâm vùng (3) là 8,60m.

- Ký hiệu (3) là vùng lông tóc trên mặt đường KT: 0,05 x 0,04m. Đo từ tâm (3) cách mép chuẩn là 5,60m. Đo vuông góc từ tâm (3) đến tâm trục bánh sau bên trái xe (4) là 2,35m.

- Ký hiệu (4) là xe ô tô tải BKS: 20C-245.60 đang đỗ trên mặt đường, đầu xe quay hướng Lạng Sơn, đuôi xe quay hướng Thái Nguyên. Đo từ tâm trục bánh trước bên trái và tâm trục bánh sau bên trái xe (4) cách mép chuẩn lần lượt là: 6,70m và 6,30m. Đo vuông góc từ tâm trục bánh sau bên trái xe (4) đến mép vạch gờ giảm tốc hướng Thái Nguyên - Lạng Sơn là 83,60m. Đo vuông góc từ tâm trục bánh trước bên trái xe (4) đến đỉnh đầu tử thi (5) là: 1,70m. Đo vuông góc từ tâm trục bánh trước bên trái xe (4) đến điểm mốc là 15,80m.

- Ký hiệu (5) là tử thi trong tư thế nằm úp mặt xuống đường, đầu tử thi quay hướng mép chuẩn, hai chân tử thi quay hướng mép trái đường. Đo từ đỉnh đầu tử thi cách mép chuẩn là: 6,30m, đo từ điểm gót chân trái tử thi cách mép chuẩn là 7,80m. *Tại biên bản khám nghiệm phương tiện xe ô tô BKS 20C-245.60 do Công an tỉnh T lập ngày 12/12/2025 thể hiện: Tại mặt ca lăng trước và thanh ba đờ xốc có vùng nứt, vỡ, bong tróc sơn, trượt mất bụi trên diện kích thước 38 x 50cm. Điểm cao nhất cách mặt đất 131cm, tâm vùng cách mép thành xe bên trái 55cm, tâm bề mặt bám dính vật chất màu nâu đỏ; Tại mặt trong phía sau vùng nhựa vỡ của ba đờ xốc có vết nứt, vỡ, mất nhựa ba đờ xốc kích thước 10 x 7cm, tâm vùng vỡ cao cách mặt đất 70cm, cách mép thành xe bên trái 55cm; Tại mặt tiếp xúc của má lốp trước bên trái phía trên chữ “M” trong dòng chữ “MRF” của mặt ngoài má lốp có vết trượt xước cao su kích thước 45 x 20cm, trên bề mặt bám dính vật chất màu nâu xám; Mặt tiếp xúc của 02 (hai) bánh lốp sau bên trái có vết mài trượt cao su trong diện kích thước 95 x 53cm; Mặt tiếp xúc của 02 (hai) bánh lốp sau bên phải có vết mài trượt cao su trong diện kích thước 110 x 53cm; Mặt tiếp xúc bánh trước bên phải có vết mài trượt cao su kích thước 32 x 20cm. Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống điều khiển; Hệ thống ly hợp (côn); Hệ thống đèn (pha, cốt) tín hiệu trước sau phải trái đèn phanh; Còi; Hệ thống phanh; Gương chiếu hậu hai bên; Gạt mưa (tất cả còn hiệu lực). 06 bánh lốp còn hơi. *Khám nghiệm tử thi ông Đường Phi H1 hồi 09 giờ 30 phút ngày 12/12/2025 thấy: Tử thi mặc áo khoác màu nâu xám dài tay có khoá kéo, bên phải có vết rách theo đường chỉ may, lưng áo bám dính vật chất màu đen, sườn áo bên trái có vết rách nham nhở tổ chức sợi vải. Mặc quần đùi màu đen kẻ caro, ống quần bên trái có vết rách sợi vải. Vùng trán sát đường chân tóc có vết xây xát, mài trượt mất da kích thước (4x2,5)cm. Vùng chân bên trái cách trên cung lông mày trái 2,5cm có vết xây xát kích thước (1 x 0,5)cm; Đuôi cung lông mày trái có vết xây xát da kích thước (2 x 1,5)cm; Trán có khối sưng nề kích thước (9,5 x 8)cm; Hai hố mắt bầm tím; Mi trên mắt phải có vết rách da kích thước (3,5 x 1)cm; Đuôi cung lông mày phải có vết rách lóc da cơ kích thước (2 x 1)cm; Mũi, miệng có nhiều máu chảy ra; Vùng bụng bên trái có vết bầm tím kích thước (12 x 5,5)cm; Dưới gai chậu trước trên bên trái 10cm có vết xây xát da, mài trượt rải rác trên diện (15 x 8,5)cm; Gai chậu trước trên bên phải có vết xây xát da kích thước (2 x 1,5)cm; Giữa lưng có vết xây xát da kích thước (1,5 x 1)cm; Thắt lưng bên phải có vết mài trượt da kích thước (5,5 x 2,5)cm. Phía trên vết này có vết bầm tím, in hằn vân lốp kích thước (10 x 10)cm; Mu bàn tay phải rải rác vết xây xát da; Từ mặt ngoài cẳng tay trái đến mu tay trái có vết mài trượt da có lộ xương kích thước (25 x 7,5)cm; Mặt trong gối phải có vết xây xát da (5 x 2,5)cm; Mặt trước gối phải có vết xây xát da (2 x 1,5)cm; Gối trái có vết xây xát da kích thước (8 x 5)cm. Mổ tử thi, xác định: Gãy cung trước xương sườn bên phải từ 1 đến 5; Gãy cung bên xương sườn số 9, 10 bên trái; Dập phổi rải rác; Khoang ngực chảy máu không đông; Ổ bụng có nhiều máu, vỡ các tạng trong ổ bụng. Trật khớp háng bên trái. Tại Bản kết luận giám định tử thi số 106/KLGĐTT-KTHS ngày 31/12/2025 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Đường P, sinh năm 1964, HKTT xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên bị đa chấn thương: Chấn thương ngực kín, gãy nhiều xương sườn, dập phổi, chảy tụ máu trong khoang ngực; chấn thương bụng kín, vỡ các tạng trong ổ bụng, chảy tụ máu trong ổ bụng gây suy hô hấp cấp, suy tuần hoàn cấp dẫn đến chết. Tại Bản kết luận giám định hóa pháp số 3838/PY-XNĐH ngày 24/12/2025 của V1 kết luận trong mẫu máu tử thi ông Đường Phi H1: Tìm thấy E, nồng độ 153,9mg/100ml máu; Không tìm thấy các chất ma túy. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 27/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã V, tỉnh Thái Nguyên kết luận: Giá trị hư hỏng, thiệt hại của xe ô tô BKS 20C-245.60 là 380.000 đồng. Tại biên bản xét nghiệm ma túy ngày 12/12/2025 của Trạm y tế P, xã V, tỉnh Thái Nguyên đối với Triệu Văn T cho kết quả: Âm tính. Tại Phiếu đo nồng độ cồn số ID 858460, số biên bản 04384 ngày 12/12/2025 đối với Triệu Văn T cho kết quả: 0.000mg/L. Vật chứng của vụ án gồm: 01 xe ô tô BKS 20C-245.60, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 20 000435; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số VA 2334548; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số OT25 0047774. Ngày 21/01/2026, cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã trả cho Triệu Văn T quản lý, sử dụng. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Triệu Văn T đã bồi thường cho đại diện người bị hại số tiền 180.000.000 đồng, sau khi nhận tiền người đại diện bị hại không còn yêu cầu, đề nghị gì khác và có đơn xin miễn, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Triệu Văn T. Tại phiên tòa bị cáo Triệu Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSKV5, ngày 27/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Triệu Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo Triệu Văn T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 260 BLHS đối với bị cáo Triệu Văn T. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 180.000.000 đồng, gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác nên không đề nghị giải quyết. Về vật chứng: Quá trình điều tra, xét xử, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo Triệu Văn T 01 xe ô tô BKS 20C-245.60, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 20 000435; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số VA 2334548; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số OT25 0047774 nên không đề nghị giải quyết. Về án phí: Buộc bị cáo Triệu Văn T phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất và được hưởng án treo. Tại phiên tòa người đại diện của gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Khoảng 05 giờ 15 phút ngày 12/12/2025, Triệu Văn T (là người có giấy phép lái xe ô tô theo quy định) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 20C-245.60 đi theo hướng Thái Nguyên - Lạng Sơn. Khi đi qua ngã tư nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ đoạn Km 107 + 700 thuộc xóm T, xã V nơi có đèn tín hiệu giao thông đang hiển thị tín hiệu vàng (cảnh báo nguy hiểm), do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên đã đâm va vào ông Đường Phi H1, sinh năm 1964, trú tại xóm T, xã V, tỉnh Thái Nguyên đi bộ sang đường và đang đứng giữa lòng đường làm ông H1 ngã ra đường và bị bánh xe phía trước bên trái xe ô tô của T lăn qua người làm ông H1 bị chấn thương ngực kín, gãy xương sườn, dập phổi, vỡ các tạng trong ổ bụng, chảy tụ máu trong ổ bụng gây suy hô hấp cấp, suy tuần hoàn cấp dẫn đến chết. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Triệu Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông; bản kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi nêu trên của Triệu Văn T đã vi phạm khoản khoản 1 Điều 10; khoản 1, điểm b, c, d khoản 2 Điều 11; điểm a, b, c khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024, gây hậu quả làm chết 01 người, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: Điều 10. Quy tắc chung. 1. Người tham gia giao thông đường bộ phải …, chấp hành báo hiệu đường bộ và các quy tắc giao thông khác. Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ 1. Báo hiệu đường bộ bao gồm: … đèn tín hiệu giao thông; biển báo hiệu đường bộ; vạch kẻ đường … 2. Người tham gia giao thông đường bộ phải chấp hành báo hiệu đường bộ theo thứ tự ưu tiên từ trên xuống dưới như sau: a,… b, Tín hiệu đèn giao thông. c, B báo hiệu đường bộ. d, V kẻ đường và các dấu hiệu khác trên mặt đường. … Điều 12. Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe … 3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau đây: a, Tại nơi có vạch kẻ đường hoặc báo hiệu khác dành cho người đi bộ hoặc tại nơi mà người đi bộ, … đang qua đường. b) Có chướng ngại vật trên đường; c) … tầm nhìn bị hạn chế; … Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 quy định: “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;’’. [2]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xác định: Hành vi phạm tội của bị cáo Triệu Văn T là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn công cộng, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để răn đe, phòng ngừa chung đối với mọi người. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 180.000.000 đồng, người đại diện của gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó trong lượng hình, HĐXX đã xem xét giảm nhẹ phần nào mức hình phạt đối với bị cáo và xét thấy bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, mà cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 260 BLHS đối với bị cáo Triệu Văn T. Hội đồng xét xử nhận thấy việc truy tố của Viện kiểm sát để xét xử đối với bị cáo Triệu Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. [3]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 180.000.000 đồng, những người đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết. [4]. Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan tố tụng đã trả lại cho bị cáo Triệu Văn T 01 xe ô tô BKS 20C-245.60, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 20 000435; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số VA 2334548; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số OT25 0047774. [5]. Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật. [6]. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện của bị hại và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo luật định. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn T 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Triệu Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Triệu Văn T có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. [2]. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Triệu Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt và kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật đối với người vắng mặt./.

Cỡ chữ