vanban.org

Bản án 53/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 10/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn V 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/10/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn V - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:53/2026/HS-ST
Ngày: 10/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Hoa Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Trung Lợi và bà Sầm Thị Minh Khuyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Mai Na- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4

- Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Lưu Thượng Thống - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2026/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Trần Văn V (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20 tháng 9 năm 1967 tại xã Kiến Xương, tỉnh Hưng Yên; số định danh cá nhân/CCCD: 0340xxx; nơi ĐKNK thường trú: Thôn K, xã N, tỉnh Lào Cai, nơi ở: Thôn K1, xã N, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V và bà Vũ Thị D (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1968 và có 04 con (con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 2009). Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/10/2025, tạm giam từ ngày 19/10/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị Kh, sinh năm 1992, địa chỉ: Thôn K, xã Ch, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 13/10/2025, tổ công tác Công an xã N, tỉnh Lào Cai đang làm nhiệm vụ tại khu vực Thôn K1, xã N, phát hiện có 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Qua kiểm tra xác định là Trần Văn V, V tự giác lấy từ trong túi quần dài đang mặc phía trước bên trái trên người ra giao nộp 03 gói giấy có màu sắc khác nhau, bên trong mỗi gói giấy đều có chứa chất bột nén màu trắng, V khai nhận đây là 03 gói Heroine của V mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng là 03 gói chất bột nén màu trắng thu giữ trên người V. Tạm giữ của Trần Văn V số tiền 109.000 đồng, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX110 màu xám biển kiểm soát 21G1-043.13, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy A02s.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Trần Văn V tại Thôn K1, xã N, tỉnh Lào Cai, kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Kết quả điều tra Trần Văn V khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 13/10/2025, Trần Văn V đi từ nhà đến khu vực bản M, xã H, tỉnh Lào Cai để tìm mua ma túy. Tại đây V đã gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết và mua của người này được 03 gói giấy bên trong chứa chất ma túy với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, V cất số ma túy này vào túi quần đang mặc rồi đi về nhà. Khoảng 12 giờ cùng ngày, V về đến nhà. Sau đó, do đói nên V tiếp tục đi ra ngoài để mua mì tôm, di chuyển theo hướng từ xã N đi xã Ch. Khi đang trên đường đi thì bị lực lượng Công an xã N phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 13/10/2025 đối với Trần Văn V cho kết quả: Trần Văn V dương tính với ma túy.

Tại Bản kết luận giám định số 707/KL-KTHS ngày 17/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Chất bột nén màu trắng thu giữ của Trần Văn V là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng là 0,21 gam.

Tại Bản kết luận giám định số 722/KL-KTHS ngày 20/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000đ; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5000đ; 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2000đ gửi giám định đều là tiền thật.

Tại bản cáo trạng số 77/CT-VKS- KV4 ngày 21/01/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Trần Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Trần Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Văn V từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine (sau khi trích mẫu giám định) được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong vật chứng, 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong vật chứng + 03 mảnh giấy gói; trả lại cho Trần Văn V số tiền 109.000 đồng; trả lại cho Trần Thị Kh 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại Galaxy A02s, đã qua sử dụng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định và đề nghị tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Văn V nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận đủ tài sản, không có yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn V khai nhận: Ngày 13/10/2025, bị cáo Trần Văn V đã có hành vi cất giấu ma túy là Heroine trong người với mục đích để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ. Tổng khối lượng ma túy bị thu giữ là 0,21 gam Heroine. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy sẽ bị xử lý theo pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của Trần Văn V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất mức độ gây nguy hiểm lớn cho xã hội, xâm hại đến những quy định của Đảng và Nhà nước trong việc sản xuất, quản lý và sử dụng chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ tính trái pháp luật của hành vi nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó cần phải được xử lý nghiêm minh để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, kết quả xét nghiệm ma túy dương tính cho thấy bị cáo có sử dụng trái phép chất ma túy, xét thấy bị cáo là có nhân thân chưa tốt.

Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung đối với các loại tội phạm về ma túy. Xét đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết của vụ án nên được HĐXX chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh về tài sản và tại phiên tòa thể hiện bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Văn V.

Về vật chứng, tài sản tạm giữ của vụ án:

+ 0,21 gam Heroine đã trích 0,1 gam Heroine sử dụng làm mẫu vật giám định không hoàn lại. Số còn lại 0,11 gam Heroine được niêm phong trong 01 vỏ phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai phát hành là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.

+ 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong vật chứng + 03 mảnh giấy gói là những vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định pháp luật.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX110, biển kiểm soát 21G1-043.13. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị Kh (con đẻ của bị cáo Trần Văn V). Việc bị cáo sử dụng xe làm phương tiện đi mua Heroine, chị Khuyên không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho chị Trần Thị Kh là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02s. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị Kh, không sử dụng vào việc phạm tội và không liên quan đến vụ án, nên cần trả lại chiếc điện thoại này cho chị Trần Thị Kh theo quy định pháp luật.

+ Số tiền 109.000 đồng. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.

Về vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của người phụ nữ dân tộc Mông không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Văn V: Ngày 12/10/2025, Trần Văn V sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Trần Văn V kết quả dương tính với ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Văn V không thuộc các trường hợp cấu thành tội phạm hình sự nên Công an tỉnh Lào Cai đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi này của V là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Trần Văn V 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/10/2025.

3. Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Căn cứ các điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 0,11 gam Heroine được niêm phong trong 01 phong bì do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai phát hành; 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong và 03 mảnh giấy gói.

- Trả lại cho bị cáo Trần Văn V số tiền 109.000 đồng (một trăm linh chín nghìn đồng).

- Trả lại cho chị Trần Thị Kh 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy A02s.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 29/01/2026 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai và phòng Thi hành án dân sự khu vực 4- Lào Cai, tỉnh Lào Cai).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Văn V phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Bị cáo Trần Văn V có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ