vanban.org

Bản án 53/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Trần Thành Hoàng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chai nhựa có nắp màu xanh dương, phần nắp có gắn một ống bằng thủy tinh và 01 ống hút màu trắng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thành Hoàng L - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Trần Thành Hoàng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2026/HS-ST
Ngày 13-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Tám

2. Bà Trần Thị Hậu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 56/2026/TLST-HS ngày 09/02/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2026/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Trần Thành Hoàng L; sinh ngày 02/02/2000 tại thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 08/12; Con ông Trần Bá T, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: Không;

Bị cáo bị bắt ngày 26/10/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố H (có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thành Hoàng L là người nghiện ma túy, loại ma túy L sử dụng là ma túy đá. L và người bạn tên T1 (không rõ nhân thân lai lịch) là bạn bè quen biết ngoài xã hội với nhau. Ngày 25/10/2025, T1 và L cùng uống cà phê tại quán cà phê không tên thuộc xã P, thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây T1 lấy ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy của mình cà nấu để cùng L sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong còn một ít ma túy nên T1 cho L, L cất giấu trong túi quần bên trái mang về phòng trọ tại địa chỉ số D đường T, khu phố B P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng. Đến khoảng 09 giờ 20 phút ngày 26/10/2025, khi L đang ở tại phòng trọ tại địa chỉ nêu trên thì bị lực lượng Công an phường B đến kiểm tra hành chính phát hiện L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong túi quần bên trái L đang mặc.

Tang vật thu giữ bao gồm: 01 gói ma túy; 01 chai nhựa có nắp màu xanh dương, phần nắp có một ống bằng thủy tinh, 01 ống hút màu trắng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9, đã qua sử dụng.

Qua làm việc, Trần Thành Hoàng L đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định số: 8648/KL-KTHS ngày 29 tháng 10 năm 2025 của Phòng K, Công an T kết luận: Một phong bì màu trắng được niêm phong có hình dấu của Công an phường B - Công an T, cùng các chữ ký ghi họ tên của: Lê Đình T2, Vũ Nguyễn Hoàng P, Trần Thành Hoàng L, Phạm Minh T3 bên trong có 01 gói nylon chứa chất kết tinh không màu, trong suốt (ký hiệu Mẫu A) có khối lượng 0,9505 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Về xử lý vật chứng: Đối với một phong bì niêm phong của Phòng K Công an Thành phố H kèm theo Kết luận giám định số 8648/KL-KTHS ngày 29 tháng 10 năm 2025 mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định; 01 chai nhựa có nắp màu xanh dương, phần nắp có một ống bằng thủy tinh, 01 ống hút màu trắng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9, đã qua sử dụng. Đã được Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 31/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Trần Thành Hoàng L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện quyền công tố trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của bị cáo gây ra; phân tích nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thành Hoàng L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thành Hoàng L mức án từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo L là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Trần Thành Hoàng L không có ý kiến gì về bản luận tội của Kiểm sát viên; Bị cáo nói lời sau cùng xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh và điều luật truy tố:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như sau:

Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 26/10/2025 tại phòng trọ số D đường T, khu phố B P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thành Hoàng L đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt, có khối lượng 0,9505 gam ma túy, loại Methamphetamine trong túi quần bên trái L đang mặc nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý xác định hành vi của Trần Thành Hoàng L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần áp dụng quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

. Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi của bị cáo và mức hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý độc quyền chất gây nghiện, gây mất trật tự an toàn xã hội, làm nguy cơ phát sinh nhiều tội phạm khác. Bị cáo là công dân đã trưởng thành, ý thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng để thoả mãn nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý của bản thân bị cáo đã cố ý thực hiện. Do đó, đối với bị cáo cần xem xét mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chai nhựa có nắp màu xanh dương, phần nắp có một ống bằng thủy tinh, 01 ống hút màu trắng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F9 là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

. Về các vấn đề khác: Ngày 25/10/2025, Trần Thành Hoàng L sử dụng trái phép chất ma túy cùng người đàn ông tên T1 (không rõ nhân thân lai lịch), T1 là người chuẩn bị ma túy, bộ dụng cụ sử dụng ma túy và cà nấu để L sử dụng chung nên không có căn cứ xử lý L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025). Ngoài ra, L không thuộc trường hợp đang cai nghiện hoặc đang quản lý sau cai nên không có căn cứ để xử lý L về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).

Đối với người đàn ông tên T1 (không rõ nhân thân lai lịch) cùng L sử dụng trái phép chất ma túy và cho L ma túy để sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H tiếp tục điều tra, xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định.

. Về án phí: Bị cáo Trần Thành Hoàng L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Trần Thành Hoàng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

1. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt Trần Thành Hoàng L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chai nhựa có nắp màu xanh dương, phần nắp có gắn một ống bằng thủy tinh và 01 ống hút màu trắng.

Trả lại cho bị cáo Trần Thành Hoàng L 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO đã mất mặt sau, mặt trước bị vỡ, máy không khởi động được.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 109/BB –THADS (12) ngày 13/3/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12). 3. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Buộc Trần Thành Hoàng L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ