vanban.org

Bản án 53/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Tuyên án 23/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Hồng Ph1, Trần Văn H1, Cao Văn D1, Trần Thị A1 phạm tội “Đánh bạc”.

Giao các bị cáo Đỗ Hồng Ph1, Trần Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xã ĐQ; giao bị cáo Cao Văn D1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn T1; giao bị cáo Trần Thị A1 cho Ủy ban nhân dân xã ĐC, đều thuộc huyện T1, tỉnh T2 giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đình Ph và Đồng phạm đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Hồng Ph1, Trần Văn H1, Cao Văn D1, Trần Thị A1 phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T1
TỈNH T2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HSST
Ngày 23/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ngọc Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Hiểu.

Ông Vũ Văn Quảng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2025/HSST ngày 04 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 16/2025/HSST-QĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Đỗ Hồng Ph1, sinh ngày 01/5/1976; nơi sinh: huyện T1, tỉnh T2; nơi cư trú: Thôn PL, xã ĐQ, huyện T1, tỉnh T2; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Khắc Tr và bà Nguyễn Thị R; có vợ là Nguyễn Thị C và 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 15/2018/HSST ngày 22/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện T1 xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội đánh bạc, khấu trừ thu nhập 1.740.000 đồng, án phí 200.000 đồng, đã được xóa án tích; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Văn H1, sinh ngày 08/02/1977; nơi sinh: huyện T1, tỉnh T2; nơi cư trú: Thôn MĐ, xã ĐQ, huyện T1, tỉnh T2; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức H và bà Trần Thị Q; có vợ là Phạm Thị H2 và có 2 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định số 202 ngày 21/8/2009 của Công an huyện T1 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (đã chấp hành xong). Quyết định số 123 ngày 09/6/2014 Công an huyện T1 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc (đã chấp hành xong); bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Cao Văn D1, sinh ngày 10/7/1964; nơi sinh: huyện T1, tỉnh T2; nơi cư trú: Tổ dân phố số x, thị trấn T1, huyện T1, tỉnh T2; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Xuân Đ và bà Vũ Thị T (đều đã chết); có vợ là Trần Thị M và có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 26 ngày 24/12/1983 của Tòa án nhân dân huyện T1 xử phạt 06 tháng tù về tội xâm phạm nhân phẩm công dân, ngày 21/3/1984 chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

4. Trần Thị A1, sinh ngày 04/01/1977; nơi sinh: huyện T1, tỉnh T2; nơi cư trú: Thôn LĐ, xã ĐC, huyện T1, tỉnh T2; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Tôn T3 và bà Lê Thị Ng; có chồng là Nguyễn Văn Th và có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 1999; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn Th1, sinh năm 1965; anh Trần Văn H2 sinh năm 1978, đều trú tại thôn MĐ, xã ĐQ, huyện T1, tỉnh T2 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đỗ Hồng Ph1 và Trần Văn H1 là bạn bè nên rủ nhau chung tiền để bán số lô, số đề trái phép cho khách và thống nhất ăn chia sau khi thắng thua theo tỷ lệ 50/50, Ph1 là người trực tiếp bán số lô, số đề sau đó gửi vào nhóm "H1, Lính Tinh" để H1 biết. Cách thức bán bán số lô, đề như sau: Dựa vào kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng vào lúc 18 giờ 15 phút và kết thúc lúc 18 giờ 30 phút hàng ngày để bán số lô, số đề trái phép cho khách với giá đặt cược là 22.000 đồng/ 1 điểm lô nếu trúng thưởng 1 điểm lô được 80.000 đồng. Số đề nếu trúng thưởng tính theo tỷ lệ 1 x 70 tiền đặt cược; số lô xiên 2 và số lô xiên 3 nếu trúng thưởng tính theo tỷ lệ lần lượt là 1 x 10 tiền đặt cược và 1 x 40 tiền đặt cược. Những số lô trúng thưởng là những số trùng với hai số cuối của tất cả các giải. Số đề trúng thưởng là số trùng với hai số cuối của giải đặc biệt. Số lô xiên 2 và xiên 3 trúng thưởng là những bộ số đặt cược đều xuất hiện trong tất cả các giải. Nếu số lô nào xuất hiện càng nhiều lần (nhiều nháy) thì được nhân tiền trúng thưởng tương ứng số “nháy” xuất hiện. Trường hợp nếu đặt cược mà không trúng thưởng thì thua hết số tiền đã cược. Ph1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 được đăng ký bằng số điện thoại 04.523.427.578 tạo lập tài khoản zalo có tên “Lính Tinh” để bán số lô, số đề cho khách qua tin nhắn trên ứng dụng zalo. Với phương thức thủ đoạn nêu trên ngày 14/12/2024 Ph1, H1 bán số lô, số đề trái phép cụ thể như sau:

Khoảng 17 giờ 41 phút ngày 14/12/2024, Trần Văn H2 sinh năm 1978, trú tại thôn MĐ, xã ĐQ, huyện T1, sử dụng tài khoản zalo “Trần Hoán” nhắn tin qua zalo "Lính Tinh" mua số lô 32, 67, 95 mỗi số 10 điểm. Tổng là 30 điểm với giá 22.000 đồng/1 điểm lô tương tứng với số tiền 660.000 đồng. Dựa vào kết quả xổ số Miền Bắc ngày 14/12/2024 thì Trần Văn H2 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề của Ph1, H1 và Hoán ngày 14/12/2024 là 660.000 đồng. Số tiền này các bên chưa thanh toán với nhau.

Khoảng 17 giờ 19 phút ngày14/12/2024 Trần Thị A1, sinh năm 1977 cư trú tại thôn LĐ, xã ĐC, huyện T1, sử dụng tài khoản zalo có tên “Gấu” nhắn tin qua zalo mua "Lính Tinh" của Ph1 mua số lô: 27, 72, 25, 52, 15, 88, 91 x 10 điểm = 70 điểm; Lô 77 = 50 điểm; Lô 33, 88 x 20 điểm = 40 điểm; Lô 74, 36, 55, 88 x 5 điểm = 20 điểm, tổng số lô A1 mua là 180 điểm với giá 22.000 đồng/1 điểm lô, số tiền mua lô là 3.960.000 đồng. A1 mua số đề: (20, 21, 27, 29) x 25 = 100.000 đồng, số đề (32, 23, 79, 97, 25, 52) x 33 = 198.000 đồng, tổng số tiền mua số đề là 298.000 đồng. Tổng số tiền A1 mua số lô, số đề là 4.258.000 đồng. Kết quả xổ số Miền Bắc ngày 14/12/2024, Trần Thị A1 trúng số lô 91 về 3 nháy x 10 điểm = 30 điểm; số lô 74, 36 x 5 điểm = 10 điểm, số tiền trúng 40 điểm lô là 3.200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 14/12/2024 của Ph1, H1 và A1 là: 7.458.000 đồng. Số tiền này các bên chưa thanh toán với nhau.

Khoảng 17 giờ 35 phút ngày 14/12/2024 Nguyễn Văn Th1, sinh năm 1965 trú tại thôn MĐ, xã ĐQ, sử dụng tài khoản zalo có tên “Nguyễn Thiêm” nhắn tin qua zalo " Lính Tinh" mua số lô 89, 98 x 15 điểm; số lô 19, 91, 55, 57 x 5 điểm; số lô 44 x 50 điểm; số lô 58, 85 x 5 điểm, tổng số lô là 110 điểm với giá 22.000 đồng/1 điểm lô tương ứng 2.420.000 đồng. Dựa vào kết quả xổ số Miền Bắc ngày 14/12/2024, Nguyễn Văn Th1 trúng số lô 91 về 3 nháy x 5 điểm = 15 điểm tương ứng số tiền 1.200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 14/12/2024 giữa Ph1, H1 và Thiêm là 3.620.000 đồng. Số tiền này các bên chưa thanh toán với nhau.

Ngoài ra, cũng trong ngày 14/12/2024 Đỗ Hồng Ph1 còn sử dụng tài khoản zalo “Lính Tinh” mua số lô, số đề trái phép của Cao Văn D1, sinh năm 1964, cư trú tại tổ dân phố số x, thị trấn T1, huyện T1 thông qua tài khoản zalo "Tiền vào túi tôi" và thống nhất 1 điểm lô giá 21.800 đồng, số đề và lô xiên là 73% tổng số tiền mua đề, lô xiên và cũng căn cứ trên kết quả sổ số Miền bắc mở thưởng hàng ngày, cụ thể như sau: Số lô: 34, 43, 77 x 15 điểm = 45 điểm; số lô 75 = 60 điểm; số lô 44=15 điểm; số lô 11, 13 x 15 điểm = 30 điểm, tổng là 150 điểm lô x 21.800 đồng/1 điểm tương ứng với số tiền là 3.270.000 đồng. Số đề 37 = 100.000 đồng, số đề 78, 69 mỗi số 50.000 đồng = 100.000 đồng, tổng là 200.000 đồng tiền đề x 73% tương ứng 146.000 đồng. Lô xiên 2: 07-72=100.000 đồng x 73% tương ứng 73.000 đồng. Tổng số tiền Ph1 mua số lô, số đề và lô xiên của Cao Văn D1 là 3.489.000 đồng (ba triệu bốn trăm tám mươi chín nghìn đồng). Kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày 14/12/2024 Ph1 trúng thưởng được số đề 78 x 50. 000 đồng = 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề giữa Ph1 với D1 là 6.989.000 đồng (sáu triệu chín trăm tám mươi chín nghìn đồng). Các bị cáo chưa thanh toán cho nhau.

Quá trình điều tra các bị cáo Đỗ Hồng Ph1, Trần Văn H1, Cao Văn D1, Trần Thị A1 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đánh bạc như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 46/CT-VKSTH ngày 27/02/2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố các bị cáo Đỗ Hồng Ph1, Trần Văn H1, Cao Văn D1, Trần Thị A1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Hồng Ph1, Trần Văn H1, Cao Văn D1, Trần Thị A1 phạm tội “Đánh bạc”.

1. Đối với bị cáo Đỗ Hồng Ph1: Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị mức hình phạt từ 01 năm 3 tháng đến 01 năm 6 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.

2. Đối với bị cáo Trần Văn H1: Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 3 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.

3. Đối với bị cáo Cao Văn D1: Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 3 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.

4. Đối với bị cáo Trần Thị A1: Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị mức hình phạt từ 09 (chín) tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.

Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, mỗi bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng. Ngoài ra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tền H1 đề nghị xử lý vật chứng và án phí, các biện pháp tư pháp khác.

Các bị cáo đồng ý với tội danh, hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đều khai nhận: Với mục đích thu lợi bất chính nên Trần Văn H1 và Đỗ Hồng Ph1 đã chung tiền với nhau để đánh bạc dưới hình thức ghi (bán) “lô, đề”, Ph1 là người trực tiếp ghi số lô, đề. Vào ngày 14/12/2024, thông qua tin nhắn zalo "Lính Tinh" Đỗ Hồng Ph1, Trần Văn H1 đã ghi (bán) “số lô, số đề” cho Trần Thị A1 với tổng số tiền là 7.458.000 đồng.

Ngoài ra, cũng trong ngày 14/12/2024, Đỗ Hồng Ph1 còn sử dụng tài khoản zalo “Lính Tinh” mua số lô, số đề trái phép của Cao Văn D1 thông qua tài khoản zalo "Tiền vào túi tôi" với tổng số tiền là 6.989.000 đồng.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp và được chứng minh bằng:

Đơn tố giác của công dân xã ĐQ, huyện T1, tỉnh T2; Các biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, các biên bản kiểm tra điện thoại, các tài liệu trích xuất dữ liệu từ các điện thoại đã thu giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T1 lập ngày 14/12/2024 tại Công an huyện T1; Biên bản ghi nhận kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 14/12/2024 tại Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Thủ Đô-53E, phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội; Biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định bị cáo Đỗ Hồng Ph1, Trần Văn H1 đã đánh bạc với Trần Thị A1 với số tiền 7.458.000 đồng; ngoài ra Đỗ Hồng Ph1 còn đánh bạc với Cao Văn D1 số tiền 6.989.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Đỗ Hồng Ph1, Trần Văn H1, Cao Văn D1, Trần Thị A1 đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 321 Bộ luật hình sự. Tội đánh bạc:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. ............................ 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, là ẩn hoạ của nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật song vẫn thực hiện, đồng phạm trong việc thực hiện tội đánh bạc. Vì vậy, các bị cáo Ph1 chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, vì mục đích lợi nhuận nên bị cáo Ph1, H1 đã tiếp nhận ý chí của nhau và đã chung nhau đánh bạc với bị cáo A1 thông qua hình thức bán số lô đề, như vậy Ph1, H1, A1 đồng phạm với nhau về tội đánh bạc; cùng ngày, bị cáo Ph1 còn đánh bạc với bị cáo D1 cũng thông qua hình thức mua bán số lô đề, như vậy bị cáo Ph1, D1 đồng phạm với nhau về tội đánh bạc.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong vụ án này, các bị cáo Đỗ Hồng Ph1, Cao Văn D1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Văn H1, Trần Thị A1, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo A1, Ph1 có bố đẻ là người có công với cách mạng, bị cáo D1 đã tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo không Ph1 chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về nhân thân: Bị cáo Ph1 năm 2018 bị xử phạt cải tạo không giam giữ về hành vi đánh bạc; bị cáo H1 năm 2009, 2014 bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc; bị cáo D1 năm 1983 bị xử phạt tù về tội xâm phạm nhân phẩm công dân, đều đã chấp hành xong và được xóa án tích.

Về trách nhiệm hình sự:

Xét mức độ, vai trò; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của từng bị cáo Hội đồng xét xử đánh giá trách nhiệm hình sự như sau: Bị cáo Ph1 là người đánh bạc với số tiền nhiều nhất, vào ngày 14/12/2024 cùng với Trần Văn H1 đA1 bạc với Trần Thị A1 với tổng số tiền là 7.458.000 đồng, ngoài ra bị cáo Ph1 còn đánh bạc với bị cáo Cao Văn D1 với số tiền 6.989.000 đồng. Như vậy bị cáo Ph1 có vai trò thứ nhất; tiếp đến là bị cáo Trần Văn H1, mặc dù không trực tiếp bán số lô, đề nhưng đã đồng ý chung tiền với Ph1 để bán số lô đề ăn chia tỷ lệ, bị cáo đã cùng với Ph1 bán số lô đề cho bị cáo Trần Thị A1 với số tiền 7.458.000 đồng; bị cáo D1 đánh bạc với số tiền 6.989.000 đồng; bị cáo A1 đánh bạc với số tiền 7.458.000 đồng là tương đương nên cùng xếp các bị cáo có vai trò ngang nhau.

Các bị cáo Ph1, H1 có nhân thân đánh bạc, bị cáo D1 có nhân thân xâm phạm nhân phẩm công đều đã lâu, bản thân sau khi phạm tội chấp hành tốt chủ trương chính sách, pháp luật, bị cáo A1 có nhân thân tốt, các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết Ph1 cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ để giáo dục các bị cáo và là phù hợp với quy định của pháp luật.

Các bị cáo đánh bạc mục đích thu lời bất chính, cần thiết Ph1 áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên do bị cáo lao động tự do, khó khăn về kinh tế nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 35 Bộ luật hình sự xem xét xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt.

Về các biện pháp tư pháp: Đối với số tiền Đỗ Hồng Ph1 và các bị cáo khác đánh bạc:

Trong ngày từ 14/12/2024, Đỗ Hồng Ph1 và Trần Văn H1 đã đánh bạc với bị cáo Trần Thị A1 với tổng số tiền số tiền 7.458.000 đồng (A1 đánh bạc 4.258.000 đồng, thắng bạc 3.200.000 đồng nhưng chưa thanh toán cho Ph1 và H1), A1 thắng bạc 3.200.000 đồng, do Ph1 và H1 chung nhau đánh bạc 50/50, xác định đây đều là số tiền đánh bạc và thắng bạc, cần truy thu sung quỹ Nhà nước, trong đó truy thu của Ph1, H1 mỗi bị cáo 1.600.000 đồng tiền thắng bạc của A1; truy thu của bị cáo A1 số tiền đánh bạc 4.258.000 đồng. Ngoài ra truy thu của Ph1 và H1 mỗi bị cáo 600.000 đồng là số tiền thắng bạc của ông Nguyễn Văn Th1, sinh năm 1965, trú tại thôn MĐ, xã ĐQ, huyện T1, tỉnh T2. Đối với việc bị cáo Ph1 đánh bạc với bị cáo D1 số tiền 3.498.000 đồng, Ph1 thắng bạc số tiền 3.500.000 đồng, cần truy thu sung quỹ Nhà nước, trong đó truy thu của Ph1 số tiền 3.489.000 đồng, D1 số tiền 3.500.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án:

01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu vàng, lắp thẻ sim số x thu của bị cáo A1 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 có vỏ màu tím lắp thẻ sim số y, thu của bị cáo Ph1 xác định là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ.

Trong vụ án này:

Đối với hành vi ngày 14/12/2024, Ph1, H1 đánh bạc với anh Trần Văn H2 sinh năm 1978, số tiền là 660.000 đồng; đánh bạc với ông Nguyễn Văn Th1, sinh năm 1965 số tiền là 3.620.000 đồng, những người này đều trú tại thôn MĐ, xã ĐQ, huyện T1, tỉnh T2. Do số tiền đánh bạc trong các lần trên đều dưới 5.000.000 đồng, bản thân các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự về tội quy định tại Điều 321 và 322 Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T1 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định. Tuy nhiên, những người trên chưa thanh toán cho Ph1 và H1 số tiền đánh bạc, nên cần truy thu đối với họ để sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo Đỗ Hồng Ph1, Trần Văn H1, Cao Văn D1, Trần Thị A1 Ph1 chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Hồng Ph1, Trần Văn H1, Cao Văn D1, Trần Thị A1 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Xử phạt:

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Hồng Ph1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung là phạt tiền 05 (năm) triệu đồng đối với bị cáo.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H1 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 02 năm (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung là phạt tiền 05 (năm) triệu đồng đối với bị cáo.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cao Văn D1 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung là phạt tiền 05 (năm) triệu đồng đối với bị cáo.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 35; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị A1 10 (mười) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 01 năm 08 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung là phạt tiền 05 (năm) triệu đồng đối với bị cáo.

Giao các bị cáo Đỗ Hồng Ph1, Trần Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xã ĐQ; giao bị cáo Cao Văn D1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn T1; giao bị cáo Trần Thị A1 cho Ủy ban nhân dân xã ĐC, đều thuộc huyện T1, tỉnh T2 giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo Ph1 chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó Ph1 chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

3. Về các biện pháp tư pháp:

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Truy thu đối với bị cáo Đỗ Hồng Ph1 số tiền đánh bạc là 5.689.000 đồng, để sung quỹ Nhà nước.

- Truy thu đối với bị cáo Trần Văn H1 số tiền đánh bạc là 2.200.000 đồng, để sung quỹ Nhà nước.

- Truy thu đối với bị cáo Trần Thị A1 số tiền đánh bạc là 4.258.000 đồng, để sung quỹ Nhà nước.

- Truy thu đối với bị cáo Cao Văn D1 số tiền đánh bạc là 3.500.000 đồng, để sung quỹ Nhà nước, bị cáo D1 đã nộp số tiền 3.500.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0001884 ngày 22/4/2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T1, tỉnh T2, chuyển số tiền trên sang thi hành án, bị cáo D1 đã nộp đủ số tiền truy thu đánh bạc.

- Truy thu đối với anh Trần Văn H2, sinh năm 1978, trú tại thôn MĐ, xã ĐQ, huyện T1, tỉnh T2, số tiền đánh bạc là 660.000 đồng, để sung quỹ Nhà nước.

- Truy thu đối với ông Nguyễn Văn Th1, sinh năm 1965, trú tại thôn MĐ, xã ĐQ, huyện T1, tỉnh T2, số tiền đánh bạc là 2.420.000 đồng, để sung quỹ Nhà nước.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu sung quỹ: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu vàng, lắp thẻ sim số x thu của bị cáo Trần Thị A1; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 có vỏ màu tím lắp thẻ sim số y thu của bị cáo Đỗ Hồng Ph1.

(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm mô tả chi tiết trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/02/2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T1, tỉnh T2).

5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Đỗ Hồng Ph1, Trần Văn H1, Cao Văn D1, Trần Thị A1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, các bị cáo Đỗ Hồng Ph1, Trần Văn H1, Cao Văn D1, Trần Thị A1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 23/4/2025; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về vấn đề liên quan trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ