vanban.org

Bản án 53/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 28/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn Th 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2024. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TAND THÀNH PHỐ L
TỈNH L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HS-ST
Ngày 28-5- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Tòng Thị Tuyết

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lý Chí Sung,

Ông Giàng A Chỉnh

- Thư ký phiên toà: Ông Lý Văn Thắng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố L, tỉnh L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Tính, Kiểm sát viên.

Ngày 28/5/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 53/2025/HSST ngày 04 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn Th; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 8 năm 1984, tại tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT: Bản Mường V, xã Mường V, huyện Sốp C, tỉnh Sơn L; Nơi tạm trú: Tổ 3, phường Quyết Tiến, thành phố L, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Lào; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Lò Văn T, sinh năm 1940. Con bà: Lò Thị S, sinh năm 1959; Họ tên vợ: Phạm Thị Tr, sinh năm 1987 và có 02 con: con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2020. Anh chị em ruột: Không có; Tiền sự: không; Tiền án: không; Nhân thân: Tại Bản án số: 169/2010/HSST ngày 15/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La đã xử phạt Lò Văn Th 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Ngày 20/02/2012 bị cáo chấp hành xong hình phạt. Đến thời điểm phạm tội bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2024 đến ngày 29/12/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Cơ sở Quản lý tạm giữ, tạm giam khu vực thành phố L thuộc Trại Tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Hồi 11 giờ 00 phút, ngày 20/12/2024, tổ công tác của Công an xã Phài phối hợp cùng Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố L làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 11, phường Đoàn K, thành phố L, tỉnh L thì phát hiện Lò Văn Th có biểu hiện nghi vấn. Qúa trình kiểm tra phát hiện Th nuốt vật gì đó nên đã lập biên bản ghi nhận sự việc sau đó đưa Lò Văn Th đến Bệnh viện đa khoa tỉnh L để làm rõ. Tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L sau khi tiến hành nội soi dạ dày và gắp ra dị vật là 01 gói được gói bên ngoài bằng 2 lớp, lớp ngoài là nilon màu hồng, lớp trong là nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng. Theo Th khai đó là Heroine, Th tàng trữ để sử dụng.

Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn Th khai nhận: Nguồn gốc số Heroine bị thu giữ là vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 20/12/2024, Lò Văn Th đang cắt cỏ trên đồi chè thuộc tổ 11, phường Đoàn K, thành phố L, tỉnh L thì lên cơn nghiện ma túy nên đi bộ một mình tìm mua ma túy sử dụng. khi đang đi trên đồi chè Th gặp một người đàn ông lạ mặt, không rõ nhân thân lai lịch. Qua trao đổi, Th mua được 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng 2 lớp, lớp ngoài là nilon màu hồng, lớp trong là nilon màu trắng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, Th cất giấu trong miệng rồi đi bộ tìm chỗ sử dụng, khi gặp tổ công tác của Công an xã Sùng Phài cùng Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố L Th nuốt gói Heroine vào bụng thì bị tổ công tác phát hiện và vận động, giải thích. Th thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình và phối hợp ra Bệnh viện đa khoa tỉnh L để tiến hành lấy gói heroine ra khỏi dạ dày của mình để điều tra, làm rõ.

K luận giám định số: 54/KLGĐ ngày 20/12/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc K luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn Th trong quá trình bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 20/12/2024 có khối lượng là 0,24 gam. Lấy toàn bộ 0,24 gam gửi làm mẫu vật giám định

K luận giám định số: 43/KL-KTHS ngày 22/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L, K luận: 01 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại: Heroine. (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).

Cáo trạng số: 22/CT-VKSTP ngày 04/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố Lò Văn Th về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lò Văn Th từ 18 tháng đến 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2024. Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 01 phong bì công văn của Công an thành phố L (theo hồ sơ bên trong là: 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi zip miệng túi có khóa). Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các quyết định nêu trên.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật để được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản sự việc, biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, K luận giám định… và vật chứng đã thu giữ, được xem xét, tranh tụng công khai tại phiên toà. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 11 giờ 00 phút ngày 20/12/2024, tại đường dân sinh thuộc tổ 11, phường Đoàn K, thành phố L, tỉnh L, Lò Văn Th đang tàng trữ trái phép 0,24 gam Heroine để sử dụng thì bị Công an xã Sùng Phài phối hợp cùng Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố L phát hiện, bắt giữ.

Bị cáo Lò Văn Th là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Lò Văn Th có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên về mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo có phần hơi nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân của bị cáo: Tại Bản án số: 169/2010/HSST ngày 15/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Sốp C, tỉnh Sơn L đã xử phạt Lò Văn Th 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Ngày 20/02/2012 bị cáo chấp hành xong hình phạt. Đến thời điểm phạm tội bị cáo đã được xóa án tích.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Quá trình công tác bị cáo có thành tích xuất sắc được Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen; Ngoài ra, bị cáo có bố để là ông Lò Văn T được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có cơ hội cai nghiện, đủ để răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,24 gam Heroine Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định, sau giám định không hoàn lại mẫu vật nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

Đối với 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi zip miệng túi có khóa là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, theo lời khai của Lò Văn Th, nguồn gốc số Heroine bị thu giữ là do bị cáo nhờ một người đàn ông lạ mặt bị cáo gặp tại khu vực đồi chè thuộc tổ 11, phường Đoàn K, thành phố L, tỉnh L mua hộ. Tuy nhiên, Th không biết nhân thân, lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa cơ bản phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn Th 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2024.

3. Về vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an thành phố L (theo hồ sơ bên trong là: 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi zip miệng túi có khóa)

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 10/4/2025 giữa Công an tỉnh L và Chi cục thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh L).

4. Về án phí: Bị cáo Lò Văn Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.

Cỡ chữ