vanban.org

Bản án 53/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 11/06/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhật Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23 tháng 11 năm 2024. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Nhật Q phạm tội - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhật Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HS-ST
Ngày 11-6-2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Út

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Văn Công Trọn

Ông Nguyễn Công Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Ngân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Đặng Đàm Hoàng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Nhật Q, sinh năm 1996 tại tỉnh Cà Mau. Nơi đăng ký thường trú: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Nguyễn Văn C, sinh năm 1976 và mẹ: Trần Thị L, sinh năm 1970; vợ: Lê Thị N, sinh năm 1993 và con: 02 người (con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân của bị cáo:

- Ngày 22/11/2016, bị Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 794/QĐXPVPHC-MT về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” số tiền 1.500.000 đồng.

- Ngày 19/4/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời gian thử thách là 04 năm kể từ ngày 19/4/2019, đã chấp hành xong kể từ ngày 19/4/2023 (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 23/11/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 23/11/2024, do muốn sử dụng ma túy nên bị cáo Nguyễn Nhật Q liên hệ với người tên V (không rõ nhân thân) để hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, V đồng ý và hẹn Q đến khoảng 18 giờ 30 phút thì đến chỗ cầu D thuộc khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau để nhận ma túy. Bị cáo Q điều khiển xe mô tô hiệu Airblade biển kiểm soát 69C1-086.86 đến địa điểm đã hẹn gặp V, tại đây V giao cho Q một gói nilon bên trong có chứa ma túy, Q đưa cho V 200.000 đồng. Bị cáo Q cầm bịch ma túy trong lòng bàn tay trái điều khiển xe đến đoạn lộ thuộc khóm H, thị trấn S, huyện T thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ ma túy nói trên.

Tại Kết luận giám định số 647/KL-KTHS ngày 27/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh C, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu đỏ được bóp kín miệng, niêm phong trong bì thư hình chữ nhật gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,7565 gam, loại Methamphetamine.

Về vật chứng, tài sản thu giữ: 01 (một) bịch nilon màu đỏ được bóp kín miệng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng nghi là ma túy; 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 7 Plus màu trắng, đỏ (màn hình đã bị hư hỏng) và sim điện thoại số 0366.706.563; 01 (một) đoạn băng keo dính màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc xe mô tô loại Honda hiệu Airblade, biển kiểm soát 69C1-086.86.

Tại Cáo trạng số: 50/CT-VKS ngày 16/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Nhật Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát bảo vệ toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật Q từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số 647/KL-KTHS ngày 27/11/2024 của Phòng K đã được niêm phong kín; 01 đoạn băng keo dính màu đen, đã qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại hiệu Iphone 7 Plus màu trắng, đỏ và sim điện thoại.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, đã ăn năn hối cải nên xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và ban hành các quyết định, văn bản tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Nhật Q khẳng định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo tự nguyện khai báo; những người tiến hành tố tụng không ép cung, mớm cung, bức cung đối với bị cáo và bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Nhật Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Ngày 23/11/2024, bị cáo Nguyễn Nhật Q điện thoại cho đối tượng tên V hỏi mua ma túy số tiền 200.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Q đến điểm hẹn gặp V tại cầu D thuộc khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau để nhận ma túy. Bị cáo Q cầm bịch ma túy trong lòng bàn tay trái điều khiển xe đến đoạn lộ thuộc khóm H, thị trấn S, huyện T thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ ma túy nói trên.

Tại Kết luận giám định số 647/KL-KTHS ngày 27/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh C, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu đỏ được bóp kín miệng là ma túy, có khối lượng 1,7565 gam, loại Methamphetamine.

[3] Như vậy, đã có đầy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Nhật Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ về hành vi do bị cáo Nguyễn Nhật Q gây ra là nguy hiểm cho xã hội, gây ra những thiệt hại cho xã hội trong chính sách quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy và gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của con người. Đồng thời, hành vi của bị cáo còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo Nguyễn Nhật Q là người có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật cấm và chịu chế tài hình sự nghiêm khắc nhưng vẫn thực hiện nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn nhu cầu ma túy cho cá nhân. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật; đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng để giảm một phần hình phạt cho bị cáo Nguyễn Nhật Q là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét nhân thân của bị cáo xấu: Bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” số tiền 1.500.000 đồng và bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

[6] Xử lý vật chứng vụ án:

[6.1] Đối với 01 phong bì hoàn mẫu số: 647/KL-KTHS ngày 27/11/2024 của Phòng K đã được niêm phong kín là chất ma túy cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) đoạn băng keo dính màu đen, đã qua sử dụng hiện nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Bị cáo Nguyễn Nhật Q sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu trắng, đỏ (màn hình đã bị hư hỏng) sim số 0366.706.563 để làm công cụ liên lạc với đối tượng bán ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[6.2] Đối với xe mô tô loại Honda hiệu Airblade, biển kiểm soát 69C1-086.86 do Nguyễn Nhật Q mượn của chủ sở hữu Nguyễn Thanh T. Việc bị cáo Q sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma túy thì ông T hoàn toàn không biết nên quá trình điều tra đã trả xe mô tô lại cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật.

[7] Đối tượng tên V bán ma túy và quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Nhật Q khai nhận từng mua ma túy của V được 03 lần với giá 200.000 đồng, trả tiền bằng hình thức chuyển khoản qua chủ tài khoản ngân hàng tên Nguyễn Thị T1, Phạm Văn Nguyên do V cung cấp. Quá trình điều tra, không xác định được lai lịch, địa chỉ và nhân thân cụ thể của các đối tượng nêu trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ xử lý sau là phù hợp với quy định pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Nhật Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhật Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23 tháng 11 năm 2024.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì hoàn mẫu số: 647/KL-KTHS ngày 27/11/2024 của Phòng K đã được niêm phong kín và 01 (một) đoạn băng keo dính màu đen.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu trắng, đỏ (màn hình đã bị hư hỏng) và sim điện thoại số 0366.706.563.

(Các vật chứng đã qua sử dụng và chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau quản lý).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Nhật Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Án xử sơ thẩm công khai. Bị cáo Nguyễn Nhật Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ