vanban.org

Bản án 53/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Hồ Thị K được ly hôn với ông Phạm Trường Sơn N.

Về con chung: Giao con chung tên Phạm Kiều Khuê, sinh ngày 18/6/2019 cho Núi tiếp tục nuôi dưỡng; bà K không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Kiều xin ly hôn với ông Núi"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Hồ Thị K được ly hôn với ông Phạm Trường Sơn N.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13/8/2025
Về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm.

2. Ông Phạm Hoàng Kiệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Út Sang - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, tỉnh An Giang: Vụ án không thuộc trường hợp có Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

Trong ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân Khu vực 6, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 59/2025/TLST- HNGĐ, ngày 24 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXX-HNGĐ, ngày 08 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2025/QĐXX-HNGĐ, ngày 25 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồ Thị K, sinh năm 1997 (có mặt)

Bị đơn: Ông Phạm Trường Sơn N, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã V, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/3/2025 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn Bà Hồ Thị K trình bày:

- Về hôn nhân: Bà K và ông N được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Chánh, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang ngày 14/11/2018. Quá trình chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau và đã ly thân từ tháng 03/2024 đến nay. Nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà K yêu cầu được ly hôn với ông N.

- Về con chung: Bà K và ông N có 01 người con chung tên Phạm Kiều Khuê, sinh ngày 18/6/2019, hiện ông N đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà K đồng ý giao con chung cho ông N tiếp tục nuôi dưỡng, bà K không cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản chung: Bà K trình bày không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phạm Trường Sơn N được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, ông N cũng vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ:

Nguyên đơn cung cấp: Căn cước công dân, Đơn xin xác nhận nơi cư trú, trích lục kết hôn, trích lục giấy khai sinh tên Phạm Kiều Khuê, sinh ngày 18/6/2019, đơn xác nhận nơi cư trú bị đơn.

Bị đơn cung cấp: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Phạm Trường Sơn N được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Phạm Trường Sơn N.

. Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà K và ông N được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật ngày 14/11/2018 nên hôn nhân giữa bà K với ông N là hợp pháp. Tại phiên tòa, bà K kiên quyết xin ly hôn, vì cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, ông N thường hay có hành vi bạo lực gia đình đối với bà K, nên hôn nhân không hạnh phúc. Bà K và ông N ly thân đã hơn 01 năm nhưng không thể hàn gắn cho thấy tình cảm vợ chồng giữa bà K với ông N không còn, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất cho bà K được ly hôn với ông N.

Về con chung: Bà K và ông N có 01 người con chung tên Phạm Kiều Khuê, sinh ngày 18/6/2019, hiện ông N đang nuôi dưỡng. Tại phiên tòa, bà K vẫn thống nhất giữ nguyên ý kiến theo đơn khởi kiện là giao con chung ông N nuôi dưỡng. Nhận thấy, từ khi bà K và ông N ly thân đến nay ông N là người trực tiếp nuôi con, theo bà K thì cháu Khuê vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường, vì vậy Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Khuê cho ông N tiếp tục nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án ông N không có ý kiến hoặc yêu cầu về vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của bà K.

Về chia tài sản chung: Bà K trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Hồ Thị K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà K đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số 03 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Nay là Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 6, tỉnh An Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Bà Hồ Thị K được ly hôn với ông Phạm Trường Sơn N.

2. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Kiều Khuê, sinh ngày 18/6/2019 cho Núi tiếp tục nuôi dưỡng; bà K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của ông N.

3. Về chia tài sản chung: Bà K trình bày không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bà Hồ Thị K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà K đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số 03 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. (Nay là Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 6, tỉnh An Giang).

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ