vanban.org

Bản án 53/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tô Thị Ngọc D đối với chị Vũ Thị Kim H và anh Phạm Cao Đ về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;

Buộc chị Vũ Thị Kim H và anh Phạm Cao Đ có nghĩa vụ liên đới trả cho chị D số tiền vay tổng cộng 915.096.000 (chín trăm mười lăm triệu, không trăm chín mươi sáu nghìn) đồng; trong đó tiền gốc 900.000.000 đồng và tiền lãi 15.096.000 đồng. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tô Thị Ngọc D và Vũ Thị Kim H tranh chấp HĐ vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tô Thị Ngọc D đối với chị Vũ Thị Kim H và anh Phạm Cao Đ về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/DS-ST
Ngày: 29-4-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Vui;

2. Ông Vũ Hoà.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng Liêm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dương Minh Châu tham gia phiên tòa: Ông Hồ Chí Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 48/2025/TLST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tô Thị Ngọc D, sinh năm 1986; địa chỉ: Số 106, ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; (có mặt)

2. Bị đơn: Chị Vũ Thị Kim H, sinh năm 1980 và anh Phạm Cao Đ, sinh năm 1982; cùng địa chỉ: Tổ 6, Khu phố 4, thị trấn D, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn trình bày:

Thông qua người giới thiệu nên ngày 15/01/2025 (DL), chị Tô Thị Ngọc D có cho chị Vũ Thị Kim H và chồng chị H là anh Phạm Cao Đ vay số tiền 900.000.000 (chín trăm triệu) đồng. Khi vay chị H nói mượn đỡ để đáo hạn ngân hàng sau 03 ngày là ngày 18/01/2025 sẽ trả lại cho chị D, khi vay có làm giấy mượn tiền đề ngày 15/01/2025. Có chị Vũ Thị Kim H và anh Phạm Cao Đ ký tên. Đến hẹn trả nợ nhưng chị H và anh Đ không trả.

Nay chị D yêu cầu Tòa án buộc chị Vũ Thị Kim H và anh Phạm Cao Đ trả số tiền 900.000.000 (chín trăm triệu) đồng và tiền lãi suất theo mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 15/01/2025 cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án. Chị D xác nhận có nhận của chị H số tiền 10.800.000 đồng và chị đồng ý khấu trừ vào tiền lãi;

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày ý kiến như sau:

Chị H xác nhận vào ngày 15/01/2025 chị H và chồng là anh Đ có vay của chị D số tiền 900.000.000 (chín trăm triệu) đồng như chị D đã trình bày. Tuy nhiên, chị có ký giấy nhận nợ nhưng tiền thì anh Đ là người nhận, chị H không có nhận tiền. Chị H đồng ý trả cho chị D số tiền 900.000.000 (chín trăm triệu) đồng. Chị H không đồng ý trả lãi suất, từ khi vay tiền cho đến nay chị H đã đóng lãi cho chị D được số tiền 10.800.000 đồng và hiện nay chị H đang khó khăn nên không đồng ý tính lãi.

Anh Phạm Cao Đ đã trược triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dương Minh Châu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:

Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tô Thị Ngọc D đối với chị Vũ Thị Kim H và anh Phạm Cao Đ về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;

Buộc chị H, anh Đ có nghĩa vụ liên đới trả cho chị D số tiền vay 900.000.000 đồng và tính lãi suất theo yêu cầu của chị D.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị H, anh Đ phải chịu tiền án phí theo quy định pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và ý kiến của Đại diện viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn – chị D, bị đơn – chị H thống nhất xác nhận: Vào ngày 15/01/2025 (DL), chị D có cho chị H và anh Đ vay số tiền 900.000.000 đồng. Do các đương sự thống nhất xác nhận nên đây là tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh.

Anh Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố (nếu có). Do đó, Tòa án căn cứ vào ý kiến trình bày của chị H và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án là phù hợp quy định pháp luật.

Xét thấy, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và bị đơn đã thừa nhận nên có đủ căn cứ để xác định chị H, anh Đ có vay và hiện nay còn nợ của chị D số tiền 900.000.000 đồng. Do chị H, anh Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như thoả thuận nên chị D khởi kiện yêu cầu chị H, anh Đ trả tiền nợ gốc và tính lãi là phù hợp.

Xét yêu cầu tính lãi suất theo mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày vay 15/01/2025 đến ngày xét xử (29/4/2025) là phù hợp quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự nên chấp nhận. Tiền lãi được tính là 25.896.000 đồng (900.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 3 tháng 14 ngày). Ghi nhận chị D thống nhất xác nhận đã nhận của chị H số tiền 10.800.000 đồng và đồng ý khấu trừ vào tiền lãi chị H, anh Đ phải trả.

Từ những phân tích và nhận định trên, xét thấy yêu cầu của chị D là có căn cứ chấp nhận. Buộc chị H, anh Đ có nghĩa vụ liên đới trả cho chị D số tiền tổng cộng 915.096.000 đồng; trong đó tiền gốc 900.000.000 đồng và tiền lãi 15.096.000 đồng.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với các tình tiết, nội dung của vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H, anh Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 463, 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tô Thị Ngọc D đối với chị Vũ Thị Kim H và anh Phạm Cao Đ về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;

Buộc chị Vũ Thị Kim H và anh Phạm Cao Đ có nghĩa vụ liên đới trả cho chị D số tiền vay tổng cộng 915.096.000 (chín trăm mười lăm triệu, không trăm chín mươi sáu nghìn) đồng; trong đó tiền gốc 900.000.000 đồng và tiền lãi 15.096.000 đồng.

2. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Vũ Thị Kim H và anh Phạm Cao Đ phải chịu 39.452.800 đồng tiền án phí;

Chị D không phải chịu tiền án phí. Hoàn trả cho chị D số tiền tạm ứng đã nộp là 19.500.000 đồng theo biên lai thu số 0008500 ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

5. Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ