- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phan Q - Phan Thị C"
- Tòa quyết gì? Kh ng chấp nhận kháng cáo của b đơn bà Phan Th C. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 328/2024/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh.
- Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 101 Luật Đất đai; Điều 164 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2025/DS-PT Ngày: 25 - 3 - 2025 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và chia tài sản thừa kế theo pháp luật. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Hà.
Các Thẩm phán: Ông V C ng Phương
Ông Nguyễn Thanh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Th Thu Trư ng - Thư k Tòa án nhân dân tỉnh Bình Đ nh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Th Tú Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Đ nh xét xử phúc thẩm c ng khai vụ án thụ l số 215/2024/TLPT-DS ngày 24 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và chia tài sản thừa kế theo pháp luật”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 328/2024/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Q b kháng cáo.
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 29/2025/QĐXXPT-DS ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phan Q, sinh năm 1948; đ a chỉ: Tổ H, khu V, phư ng H, thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh. (Có mặt).
Đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Th Đ, sinh năm: 1987 (Theo văn bản ủy quyền ngày 13/3/2025). (Có mặt).
- Bị đơn: Bà Phan Th C, sinh năm 1976; đ a chỉ: Tổ H, khu V, phư ng H, thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh. (Có mặt).
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1978 đ a chỉ: Tổ H, khu V, phư ng H, thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh. (Có mặt).
(Theo Văn bản ủy quyền ngày 22/3/2023)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trương Th N, sinh năm: 1946 (Có mặt).
2. Bà Phan Th N1, sinh năm: 1981 (Vắng mặt).
3. Ông Phan Đình N2, sinh năm: 1984 (Vắng măt).
4. Bà Phan Th Đ, sinh năm: 1987 (Có mặt).
5. Ông Phan Đình N3, sinh năm: 1990 (Vắng mặt).
Cùng đ a chỉ: Tổ H, khu V, phư ng H, thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh.
Đại diện theo ủy quyền của ông Phan Đình N3: Bà Phan Th Đ, sinh năm: 1987 (Theo văn bản ủy quyền ngày 17/7/2023). (Có mặt).
6. Ông Phan Đình S, sinh năm: 1970; đ a chỉ: Tổ B, khu V, phư ng N, thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh. (Vắng mặt).
7. Ông Trần Văn T, sinh năm: 1971; đ a chỉ: Tổ A, khu V, phư ng N, thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh. (Có mặt).
8. Ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm: 1989; đ a chỉ: Số E L, thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh. (Vắng mặt).
9. Ông Đặng Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1986; đ a chỉ: Tổ H, khu V, phư ng H, thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh. (Vắng mặt).
Do có kháng cáo của b đơn bà Phan Th C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Phan Q trình bày: Ông và bà Võ Th N4 là vợ chồng và có 03 ngư i con chung là anh Phan Đình S, Phan Th C1 (chết còn nhỏ, chưa có chồng, con) và Phan Th C. Giữa mẹ ng và bà N4 có mâu thuẫn với nhau nên bà N4 về nhà cha mẹ bà N4 sinh sống, đến năm 1975 ng mua một ng i nhà rầm (nhà ván) của ng Võ T1 với số tiền là 15.000 đồng (mư i lăm nghìn đồng), diện tích là 8m2, ông và bà N4 đã sinh sống tại nhà rầm này cho đến khi bà N4 chết (năm 1977). Sau khi bà N4 chết, thì ng dở bỏ nhà rầm và quay về nhà ng Phan T2 là cha mẹ ruột của ng để ở. Đến năm 1979 ng tiếp tục mua một l đất của ng Lê Văn Đ1, sát nhà với cha mẹ của ng với giá tiền là 2.400 đồng (hai nghìn bốn trăm đồng). Đến năm 1980 ng kết h n với bà Trương Th N và có 04 ngư i con chung là Phan Th N1, Phan Đình N2, Phan Th Đ và Phan Đình N3. Sau khi kết h n thì ng và bà N sinh sống tại nhà mà ng đã mua của ng Đ1. Đến năm 1987, ng và bà N đã tự gánh đất, tự bồi trúc được 127,3m2 tại tổ 8, khu vực 2, phư ng H, thành phố Q. Còn ng i nhà mà ng mua của ng Lê Văn Đ1 thì ng để lại cho em ruột của ng là ng Phan T ở cho đến nay.
Diện tích đất mà vợ chồng ng tự bồi trúc được là khoảng 127,3m2 tại tổ 8, khu vực 2 (nay là khu phố 2), phư ng H, thành phố Q, hiện nay chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong số 127,3m2 ng đã chuyển nhượng lại cho 3 ngư i là bà G 40m2 (đã chuyển nhượng hơn 10 năm), bà G đã làm sổ đỏ và bà G cũng đã chuyển nhượng lại cho ngư i khác; sau đó ng bán cho ng Trần Văn T khoảng 28m2, những lần mua bán toàn là giấy viết tay kh ng có chính quyền đ a phương xác nhận. Đến khoảng năm 2020 ng cho con là Phan Đình N3 khoảng 33m2 (cho miệng) và N3 cũng đã chuyển nhượng cho ngư i khác (giấy viết tay), sau này ng có nghe con của ng nói lại là bán cho anh Nguyễn Ngọc H1.
Nay ng yêu cầu Tòa án c ng nhận toàn bộ diện tích đất 127,3m2 tại tổ 8, khu vực 2, phư ng H, thành phố Q là do ông và bà N tạo lập nên, ng kh ng đồng chia thừa kế theo yêu cầu của bà Phan Th C.
Việc mua bán chuyển nhượng đất (giấy viết tay) giữa ng và các ng, bà: Bà G, anh T và anh H1, hiện nay giữa các bên kh ng tranh chấp gì nên ng kh ng yêu cầu Toà giải quyết.
Đại diện ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông là chồng của bà Phan Th C. Mẹ vợ ng (bà V Th N4) chết năm 1977, ng có nghe ng, bà kể lại về nguồn gốc nhà, đất tại tổ 8, khu 2, phư ng H, thành phố Q là do cha mẹ vợ ng là bà V Th N4 và ông Phan Q bồi trúc, lấn chiếm đất đầm. Theo l i trình của ng Q là đất do ng và bà N tạo lập là kh ng đúng. Ông Phan Q và bà V Th N4 có tất cả 03 ngư i con gồm: Phan Đình S, Phan Th C1 (chết lúc nhỏ, chưa có chồng, con) và Phan Th C.
Trước năm 1970, ng Phan Q và bà V Th N4 đã khai hoang, đổ đất lấn chiếm diện tích đầm Th Nại thành một mảnh đất để sinh sống. Nay là thửa đất số 253 t bản đồ số 9, diện tích 127,3m2, diện tích đo đạc thực tế là 135,6m2. Tháng 11/1977, bà V Th N4 chết. Năm 1979, ng Q kết h n với bà Trương Th N và sinh sống trên mảnh đất của ng Q và bà N4 tạo lập được. Sau đó, ng Q và bà N có bồi đắp thêm khoảng 10m2 đất, việc này ng chỉ nghe nói lại chứ kh ng có chứng cứ gì để chứng minh.
Toàn bộ diện tích đất mà ng Q và bà N đang ở có một phần lớn c ng sức của bà N4 (là mẹ ruột của bà Phan Th C) tạo lập trong th i kỳ h n nhân. Năm 2008, bà N đã tự bán 41m2 đất để chữa bệnh cho ng Q và tiêu dùng cá nhân mà anh em bà C kh ng ai hay biết. Đến ngày 09/8/2020, bà N lại tiếp tục bán 40m2 đất nữa nên bà C đã báo cáo chính quyền đ a phương ngăn cản. Do đó, bà C kh ng đồng với yêu cầu khởi kiện của ng Phan Q.
Bà C yêu cầu phản tố, yêu cầu chia thừa kế phần tài sản của mẹ bà là bà V Th N4 để lại. Trong thửa đất nói trên có tổng diện tích khoảng 135,6m2 (tự đo) trừ đi 10m2 là tài sản của ng Q và bà N tạo lập, còn lại 125,6m2 là tài sản chung của cha và mẹ của bà C (ông Q và bà N4). Như vậy, tài sản yêu cầu chia thừa kế của mẹ bà C được xác đ nh như sau: Di sản thừa kế của mẹ bằng ½ tài sản chung là 62,8m2 (125,6 : 2 = 62,8m2) được chia làm 3 phần bằng nhau ( ng Q một phần, anh S và bà C mỗi ngư i một phần) mỗi phần là 20,93m2 (62,8m2 : 3 = 20,93m2). Tuy nhiên tại phiên toà h m nay bà C yêu cầu chia thừa kế phần của mẹ bà là chia cho bà và anh S, mỗi ngư i nhận ½ diện tích đất là 31,4m2 (62,8m2 : 2 = 31,4m2), kh ng đồng chia cho ng Q.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trương Thị N trình bày: Bà là vợ sau của ng Phan Q, bà và ông Q chung sống với nhau có 4 ngư i con chung như l i trình bày của ng Phan Q là đúng. Năm 1987, bà và ông Phan Q gánh đất, bồi trúc được diện tích đất là khoảng 127,3m2 , tại tổ 8, khu vực 2, phư ng H, thành phố Q như l i trình bày của ng Q là đúng, bà kh ng bổ sung gì thêm.
Bà yêu cầu tòa c ng nhận toàn bộ diện tích đất 127,3m2 tại tổ 8, khu vực 2, phư ng H, TP .Q là do bà và ông Phan Q tạo lập nên, bà kh ng đồng chia thừa kế theo yêu cầu của bà Phan Th C.
Ông Phan Đình S trình bày: Ông là con ruột của ng Phan Q và bà Võ Th N4 (chết), còn bà Phan Th C là em ruột của ng (cùng cha, mẹ). Cha mẹ ng có tất cả ba ngư i con chung là: Phan Đình S, sinh năm: 1970; Phan Th C1 (chết lúc nhỏ, chưa có chồng, con) và Phan Th C, sinh năm: 1976. Mẹ ông (bà N4) chết năm 1977, sau khi mẹ ng chết thì cha ng cưới bà Trương Th N và có 04 ngư i con chung là Phan Th Đ, Phan Th N1, Phan Đình N2 và Phan Đình N3. Về nguồn gốc đất mà hiện này ng Phan Q và Phan Th C tranh chấp là do cha ông (ông Phan Q) và bà Trương Th N (là vợ sau của cha ng) tự tạo lập nên, kh ng liên quan gì đến mẹ ng (bà N4). Nay bà C tranh chấp với ng Q ng kh ng đồng .
Bà Phan Thị Đ - đại diện ủy quyền cho ông Phan Đình N3, ông Phan Đình N2 và bà Phan Thị N1 thống nhất trình bày: Các ng, bà là con của ng Phan Q và bà Trương Th N. Cha của các ng, bà có 02 ngư i vợ, vợ đầu là bà V Th N4 (là mẹ ruột của bà Phan Th C và anh Phan Đình S). Sau khi bà N4 chết thì cha là ng Q mới kết h n với mẹ của các ng, bà. Cha và mẹ ( ng Q, bà N) có tất cả 04 ngư i con gồm: Phan Th Đ, Phan Th N1, Phan Đình N2 và Phan Đình N3. Về nguồn gốc đất mà bà Phan Th C tranh chấp với ng Phan Q, theo các ng, bà được biết là do cha, mẹ của các ng, bà tự tạo lập nên, kh ng liên quan gì đến bà V Th N4. Vì sau khi bà N4 chết, ng Q mới chung sống với mẹ là (bà N), đến năm 1987 cha mẹ của ng, bà tự gánh đất, bồi trúc, lấn chiếm đất đầm để có được diện tích đất như hiện nay. Do đó, các ng, bà kh ng chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của bà Phan Th C.
Ông Nguyễn Ngọc H1 trình bày: Năm 2020, anh Phan Đình N3 (là con của ông Phan Q và bà Trương Th N có chuyển nhượng cho ng một diện tích đất tại hẻm B L (tổ 8, khu vực 2, phư ng H, TP . Q, tỉnh Bình Đ nh), diện tích đất chuyển nhượng là 30m2 (4m x 7,5m) với giá tiền là 850.000.000 đồng. Vì đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai bên chỉ viết giấy tay, kh ng c ng chứng, chứng thực. Sau khi ng giao đủ tiền cho ng N3 thì ng tiến hành xây dựng nhà nhưng bà Phan Th C (là con của ng Q và ngư i vợ trước) cản trở kh ng cho xây dựng. Bà C cho rằng đất này là của mẹ bà và ng Phan Q tạo lập nên. Nay giữa ng Q và bà C có tranh chấp, ng kh ng có kiến gì, ng yêu cầu được tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán chuyển nhượng đất giữa ng và anh N3, gia đình ng Q, bà N để xây dựng nhà. Nếu Toà xét xử kh ng chấp nhận yêu cầu của ng Phan Q thì giữa ng và anh N3, gia đình ng Q thỏa thuận sau.
Ông Đặng Nguyễn Thành L1 trình bày: Ngày 06/9/2019, ng nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Th Xuân H2 và ông Lê Đình N5 thửa đất số 555, t bản đồ số 09 tại tổ H, khu V, phư ng H, thành phố Q với diện tích 40,9m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH02357 do UBND thành phố Q cấp ngày 20/6/2019.
Sau khi lập hợp đồng chuyển nhượng và hoàn tất thủ tục thanh toán, ng đã được Sở tài nguyên và M i trư ng tỉnh Bình Đ nh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS02494 ngày 01/10/2019. Ông đã sử dụng thửa đất nói trên ổn đ nh và kh ng có tranh chấp với bất kỳ ai từ tháng 10 năm 2019 đến nay.
Trước khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của bà H2, ông N5 và chuyển đến cư trú tại tổ 8, khu vực 2, phư ng H từ 2019 đến nay, ng kh ng biết ng Q là ai. Quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận và cấp sổ theo đúng quy đ nh của pháp luật, tài sản ng đang sử dụng và sở hữu hoàn toàn hợp pháp. Do đó, tranh chấp giữa ng Q và bà C không liên quan đến ng cũng như tài sản nói trên. Ông đề ngh giải quyết theo quy đ nh của pháp luật và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ng.
Bản án dân sự sơ thẩm số 328/2024/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Q quyết định:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ng Phan Q. Xác đ nh thửa đất số 253, t bản đồ đ a chính số 9 tại tổ 8, khu vực 2 (nay là khu phố 2), phư ng H, thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh, diện tích đất còn lại theo đơn v đo đạt: Công ty cổ phần T5 ngày 09/01/2024 là 89,4m2 là do ông Phan Q và bà Trương Th N tạo lập.
- Bác phản tố về việc yêu cầu chia thừa kế của bà Phan Th C.
Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn quyết đ nh về án phí dân sự sơ thẩm; về chi phí tố tụng khác; về quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 11/11/2024, b đơn bà Phan Th C kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án và hủy toàn bộ bản án sơ thẩm; xem xét lại l i khai của những ngư i làm chứng bên phía ng Phan Q.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Đ nh phát biểu kiến: Trong quá trình tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng và ngư i tham gia tố tụng thực hiện đúng quy đ nh của pháp luật tố tụng; Đồng th i đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS kh ng chấp nhận kháng cáo của b đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ, qua thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
. Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, b đơn bà Phan Th C có đơn kháng cáo. Nội dung đơn kháng cáo của bà phù hợp với quy đ nh tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Nội dung vụ án: Ông Phan Q và bà V Th N4 kết h n năm 1969, có 03 ngư i con. Đến năm 1975 ng mua nhà rầm của ng Võ T1 với số tiền 15.000 đồng, diện tích 8m2. Vợ chồng ng sinh sống tại đây đến năm 1977 bà N4 chết. Ông dỡ nhà rầm và quay về nhà cha mẹ ruột ở. Đến năm 1979 ng mua đất của ng Lê Văn Đ1 với giá 2.400 đồng. Đến năm 1980, ng kết h n với bà Trương Th N có 4 ngư i con. Năm 1987, vợ chồng ng tạo lập gánh đất, bồi trúc được thửa đất có diện tích 127,3m2 (thửa đất số 253, t bản đồ số 9), tọa lạc tại tổ H, khu V, phư ng H, thành phố Q (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Còn ng i nhà ng mua của ng Đ1 thì để lại cho em là ng ở cho đến nay. Ông Phan Q khởi kiện yêu cầu c ng nhận phần diện tích 127,3m2 tại thửa đất số 253, t bản đồ số 9 do vợ ng tạo lập và kh ng đồng chia thừa kế theo yêu cầu phản tố của bà Phan Th C.
. Xét kháng cáo của b đơn bà Phan Th C, HĐXX thấy rằng:
. Về nguồn gốc sử dụng thửa đất số 253, t bản đồ số 9, thuộc tổ 8, khu vực 2, phư ng H (gọi tắt là thửa số 253): Vào ngày 17/3/2002, vợ chồng ông Phan Q và bà Trương Th N đã bán một phần đất cho vợ chồng ng Võ Kim C2 và bà Nguyễn Th T4. Ông C2 (chết năm 2019), bà T4 và các con làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND phư ng H xác nhận: Nguồn gốc sử dụng đất do vợ chồng ng Phan Q và bà Trương Th N tạo lập và xây dựng nhà ở trước ngày 15/10/1993. Đến tháng 03/2002, vợ chồng ng Q bán lại một phần thửa đất ở cho bà Nguyễn Th T4 sử dụng ổn đ nh đến nay.
Ngày 20/6/2019, UBND thành phố Q đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR892903 đối với phần nhà đất nêu trên với diện tích 40,9m2 cho các đồng sở hữu bà V Th B, bà V Th Ngân G, ông V Văn S1 và bà Nguyễn Th T4 tách thành thửa số 555, t bản đồ số 9 thuộc tổ H, khu V, phư ng H. Sau đó, bà T4 bán lại nhà đất cho bà Nguyễn Th Xuân H2 và được chỉnh l biến động vào ngày 02/7/2019. Ngày 06/9/2019, vợ chồng bà Nguyễn Th Xuân H2, ông Lê Đình N5 đã lập hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cho ng Đặng Nguyễn Thành L1 (tại Phòng công chứng số tỉnh B) và được Sở T6 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02494 ngày 01/10/2019. Phần diện tích còn lại ng Phan Q đã chuyển nhượng một phần cho anh Trần Văn T khoảng 28m2. Đến năm 2020, vợ chồng ông Phan Q cùng các con viết giấy bán nhà cho ng Nguyễn Ngọc H1 phần diện tích khoảng 30m2 (mua bán bằng giấy t viết tay, kh ng có xác nhận của chính quyền đ a phương vì đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
. Tại C ng văn số 24/UBND-ĐC ngày 23/02/2024 của UBND phư ng H về việc cung cấp th ng tin liên quan đến vụ án giữa ng Phan Q và bà Phan Th C và tại Văn bản số 149/TNMT ngày 26/02/2024 của Phòng Tài nguyên m i trư ng thành phố Q cung cấp: Diện tích 127,3m2 thuộc thửa 253, t bản đồ số 9, số hiệu mảnh bản đồ gốc 527631-9(14) tại tổ 8, khu vực 2, phư ng H đứng tên chủ sử dụng ng Phan Q, phần diện tích này đã cắt một phần diện tích 40,9m2 bán lại cho hộ bà Nguyễn Th T4 và được UBND thành phố Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH02357 cấp ngày 20/6/2019. Phần diện tích còn lại ng Phan Q và bà Trương Th N đang quản l , sử dụng kh ng nằm trong quy hoạch giải tỏa bởi dự án nào. Kh ng có quyết đ nh thu hồi đất của các cấp có thẩm quyền.
. Theo biên bản xác minh ngày 09/8/2024, Chi cục thuế thành phố Q (BL 384): Ông Phan Q kê khai đóng thuế đất đối với thửa đất số 253, t bản đồ số 9 với diện tích 127,3m2. Từ năm 1997 đến năm 2011 ng Phan Q đã thực hiện đầy đủ việc đóng thuế đất. Từ năm 2012 đến nay ng Phan Q đã kê khai và nộp thuế sử dụng đất phi n ng nghiệp với diện tích 126m2. Đến th i điêm sát minh ông Phan Q thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng thuế.
Ngoài ra, (tại BL.311; 312; 313): Ông Phan Đình S khai: Phần đất tranh chấp là do ng Phan Q và bà Trương Th N (vợ sau của cha t i) tự tạo lập kh ng liên quan đến bà V Th N4; Ngư i làm chứng: Phạm Việt H3, V Văn B1, Kim Th H4 khai: Phần đất tranh chấp là do vợ chồng ng Phan Q và bà Trương Th N tạo lập, bồi trúc.
. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm kh ng chấp nhận kháng cáo của b đơn bà Phan Th C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
. Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng ngh .
. Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo quy đ nh khoản 1 Điều 29 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thư ng vụ kháng cáo kh ng được chấp nhận nên bà C phải ch u án phí.
. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Đ nh phát biểu kiến phù hợp với Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Điều 164; 166; 612 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 100; Điều 101 Luật đất đai năm 2023
- Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
1. Kh ng chấp nhận kháng cáo của b đơn bà Phan Th C. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 328/2024/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Th C phải ch u 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ số tiền đã tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001020 ngày 16/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh, bà C đã nộp đủ.
3. Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng ngh .
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Đ nh; - TAND thành phố Q; - Chi cục THADS thành phố Q; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP, Tòa DS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Văn Hà |