vanban.org

Bản án 53/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 02/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang Đ phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Quang Đ 12 (mƣời hai tháng) cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã TA, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Trần Quang Đ cho Ủy ban nhân dân xã TA, huyện ĐP, thành phố … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trần quang đạo - phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản (điều 176 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang Đ phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 176 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:53/2024/HS-ST
Ngày: 02/02/2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Sơn

Ông Nguyễn Tiến Chuyển

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Lê Hoàng Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:23/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Quang Đ, sinh ngày 29 tháng 05 năm 1990 tại Hà Nội; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Cụm X, xã TA, huyện ĐP, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Công B, sinh năm 1958 và con bà Lê Thị H, sinh năm 1963; có vợ là Đinh Thị T, sinh năm 1995 và có 02 con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không.

Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1977; Trú tại: Phòng Y, Tòa chung cư B phố NCT, phường MĐ1, quận NTL, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 11/4/2023, bà Đỗ Thị L thực hiện giao dịch chuyển số tiền 20.000.000 đồng thông qua ứng dụng MBBank từ tài khoản 08xxxxx45 của bà L mở tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MBBank) đến tài khoản 89xxxxxx999 của anh Phạm Văn T1 cũng mở tại ngân hàng MBBank. Tuy nhiên do sơ suất trong quá trình chuyển tiền, bà L đã chuyển số tiền 20.000.000 đồng này đến số tài khoản ngân hàng MBBank số 89xxxxxx99999 của Trần Quang Đ. Thời điểm này, Trần Quang Đ đang ở nhà tại Cụm X, xã TA, huyện ĐP, thành phố Hà Nội thì thấy tài khoản của mình có số tiền 20.000.000 đồng do bà L chuyển. Đ đã đăng nhập ứng dụng InternetBanking trên chiếc điện thoại Samsung của mình chuyển toàn bộ số tiền trên đến tài khoản ngân hàng Techcombank khác đứng tên Đ số 1903xxxxxx4011, sau đó sử dụng để nạp hết vào chơi game trên internet.

Sau khi phát hiện bản thân đã chuyển tiền nhầm tiền, bà L đã chuyển thêm 02 lần, mỗi lần 1.000 đồng đến tài khoản MB của Đ để thông báo chuyển khoản nhầm tiền và để lại số điện thoại của cháu là chị Đoàn Hải Y (sinh năm 1990, HKTT tại MQ, BV, Hà Nội; nơi ở tại C NCT, phường CD, quận NTL, Hà Nội, cháu bà L) để liên hệ giải quyết. Đến ngày 12/4/2023, Đ nhận được tin nhắn của ngân hàng MBBank yêu cầu liên lạc với số điện thoại 09xxxxx936 của chị Y để giải quyết về việc chuyển nhầm tiền. Đ sử dụng tài khoản Zalo đăng ký bằng số điện thoại 097xxxx100 của mình liên hệ với tài khoản Zalo đăng ký bằng số điện thoại 097xxxx936 của chị Y thì chị Y yêu cầu Đ chuyển lại số tiền 20.000.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng 08xxxxx45 của bà L. Đ thừa nhận việc có nhận được số tiền trên nhưng đã chi tiêu hết nên không có tiền để trả. Đến ngày 24/4/2023, do không có tiền trả và bị chị Y nhiều lần nhắc nhở nên Đ đã cắt liên lạc với chị Y. Đến ngày 02/9/2023, Trần Quang Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Nam Từ Liêm triệu tập làm việc.

Đối với chiếc điện thoại Samsung mà Đ đã sử dụng để chuyển tiền, do Đ đã làm mất nên Cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ được.

Đối với việc Trần Quang Đ sử dụng số tiền 20.000.000 đồng mà bà Đỗ Thị L đã chuyển nhầm để nạp vào game đánh bạc trên ineternet: Do Đ đã xóa tài khoản đánh bạc và không thể đăng nhập được vào trang web đánh bạc trên internet (do trang web đã không tồn tại), đồng thời chưa xác định được Đ đã nạp vào tài khoản của ngân hàng nào. Do đó, Cơ quan điều tra đã tách hành vi, tài liệu vật chứng liên quan đến số tiền 20.000.000 đồng Đ đã chuyển vào số tài khoản 888xxxxxx000 để tiếp tục điều tra làm rõ.

Về dân sự: Trần Quang Đ đã bồi thường cho bà Đỗ Thị L số tiền 20.000.000 đồng đã chiếm giữ trái phép trong ngày 11/4/2023. Bà L đã nhận lại tiền, không có yêu cầu, đề nghị gì và có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với Đ.

Tại cơ quan điều tra, Trần Quang Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 419/CT-VKSNTL, ngày 30/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã truy tố Trần Quang Đ về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo khoản 1 Điều 176 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 176; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quang Đ từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách từ 30 đến 36 tháng; Về dân sự: không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng được thu giữ, cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Ngày 11/4/2023, bà Đỗ Thị L chuyển nhầm số tiền 20.000.000 đồng từ tài khoản số 08xxxx045 của bà L đến tài khoản số 899xxxxxxx999 của Trần Quang Đ tại Ngân hàng TMCP Quân Đội. Sau khi phát hiện, bà Đỗ Thị L đã nhiều lần đề yêu cầu Trần Quang Đ trả lại bà số tiền trên nhưng Trần Quang Đ đã cố tình không trả cho bà L. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

. Xét tính chất hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo được hưởng lợi tài sản không có căn cứ nhưng khi chủ sở hữu yêu cầu trả lại tài sản bị cáo cố tình không trả cho bị hại mà ngay lập tức chiếm đoạt và sử dụng hết. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội; bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù nên cần áp dụng mức hình phạt phù hợp để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo thuộc cận hộ nghèo, bị hại có đơn xin rút đơn trình báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện khắc phục bồi thường cho bà Đỗ Thị L số tiền 20.000.000 đồng, bà Lý không có yêu cầu thêm về vấn đề dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí; bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: khoản 1 Điều 176; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

2.Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang Đ phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”.

3. Xử phạt: Bị cáo Trần Quang Đ 12 (mƣời hai tháng) cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã TA, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trần Quang Đ cho Ủy ban nhân dân xã TA, huyện ĐP, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.

4. Trách nhiệm dân sự: không.

5. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND.TP. Hà Nội;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND.Q. Nam Từ Liêm;

- Công an Q. Nam Từ Liêm;

- Chi cục THADS.Q. Nam Từ Liêm;

- UBND xã nơi bị cáo cư trú;

- Sở Tư pháp TP. Hà Nội;

- Người tham gia tố tụng;

Lê Thị Thúy Quỳnh

- Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA .

Cỡ chữ