- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; luật Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐIỆN BIÊN ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2024/HS-ST Ngày: 27-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sao
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Khoàng Văn Sơn
2. Ông Hà Công Nghiệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phùng Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện N, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng A H; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1966 tại huyện Nh, tỉnh Lai Châu; Nơi thường trú: Bản Ch, xã S, huyện N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân 01106600xxxx; Con ông Vàng A D và bà Mùa Thị X (đã chết); Bị cáo có vợ là Vừ Thị Ch1 và 03 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 06/9/2007 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” tại bản án số 23/2007/HS-ST; Ngày 01/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 49/2013/HSST. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/3/2024, sau đó tạm giam từ ngày 04/4/2024 cho tới nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Giàng Thị Nhung, sinh năm 1987 là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 55 phút, ngày 26/3/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện N phối hợp với Công an xã S, huyện N đang làm nhiệm vụ tại bản Ch1, xã S, huyện N, tỉnh Điện Biên, phát hiện Vàng A H đang đi bộ từ hướng bản Ch, xã S về bản Ch1, xã S có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Khi Vàng A H dừng lại đã thả 01 vật đang cầm trên tay phải xuống đất, tổ công tác đã yêu cầu Hùng nhặt vật đó lên giao nộp cho tổ công tác, thì phát hiện là 01 gói nilon màu xanh, miệng gói được gập lại, mở bên trong có chứa 10 gói nilon màu trắng, miệng các gói được hơ lửa hàn kín, bên trong các gói đều chứa chất bột dạng nén màu trắng đục. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, đưa H về trụ sở Công an xã S, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng của Vàng A H.
Tại cơ quan điều tra Vàng A H khai nhận: Vào khoảng 05 giờ 00 phút sáng ngày 24/3/2024, Vàng A H đi bộ từ nhà ở bản Ch, xã S tới Mốc 75 biên giới Việt Nam – Lào thuộc bản Chiềng Nưa, xã S để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đó, H gặp 01 người đàn ông dân tộc Thái không quen biết, qua trao đổi H đã mua 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng, miệng gói được hơ lửa dán kín với giá 500.000 đồng của ông ta. H mang gói Heroine về nhà, dùng móng tay tách thành 12 cục nhỏ, rồi lấy 01 cục vừa tách được để sử dụng. Sau khi sử dụng xong, H lấy nilon màu trắng gói 11 cục Heroine còn lại thành 11 gói nhỏ, dùng bật lửa hàn kín miệng từng gói, rồi cho toàn bộ 11 gói Heroine vào 01 túi nilon màu xanh, miệng túi gập lại, cất giấu trong túi áo đang mặc. Đến sáng ngày 25/3/2024, H tiếp tục lấy 01 gói Heroine ra sử dụng. Đến 12 giờ 55 phút ngày 26/3/2024, khi H đang cầm 10 gói Heroine còn lại trong tay phải, đi bộ từ nhà ra suối thuộc bản Ch1, xã S để tắm thì gặp tổ công tác, do hoảng sợ nên H đã thả 10 gói Heroine từ tay phải xuống đất, tổ công tác đã yêu cầu H nhặt lên giao nộp cho tổ công tác.
Tại Biên bản làm việc về việc mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, đồ vật, tài liệu ngày 26/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xác định: Tổng khối lượng chất bột dạng nén màu trắng đục thu giữ của Vàng A H có khối lượng 1,99 (một phẩy chín mươi chín) gam, gửi toàn bộ làm mẫu giám định.
Tại Kết luận giám định số: 614/KL-KTHS, ngày 03/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên kết luận:
“- Vật chứng thu giữ của Vàng A H có khối lượng 1,99 gam là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine).
- Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo”.
Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKSNP ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Vàng A H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vàng A H đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vàng A H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Vàng A H từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án là Heroine sau khi hoàn lại mẫu giám định và các mảnh nilon. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Vàng A H nhất trí với luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Vàng A H nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì thêm. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố đối với bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Vàng A H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào hồi 12 giờ 55 phút, ngày 26/3/2024, Vàng A H đã có hành vi tàng trữ trái phép 10 gói Heroine có tổng khối lượng 1,99 (một phẩy chín mươi chín) gam, được H cầm trong tay phải khi đang đi bộ tại khu vực bản Ch1, xã S, huyện N, tỉnh Điện Biên. Mục đích bị cáo tàng trữ trái phép Heroine là để bản thân sử dụng vì bị cáo là người nghiện ma túy. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra (BL 84 - 87), phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ (BL 01 - 02), kết luận giám định (BL 45) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Không có chứng cứ nào chứng minh bị cáo không phạm tội.
Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vàng A H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn huyện N, vì ma túy không chỉ gây hủy hoại sức khỏe của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, không bị ai xúi giục. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, để bị cáo cải tạo bản thân và làm gương răn đe, giáo dục trong Nhân dân. Để đảm bảo thi hành án, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo theo khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Vàng A H xuất thân trong gia đình nông dân nhưng không chịu lao động, không làm chủ được bản thân nên đã nghiện ma túy. Ngoài lần xét xử ngày hôm nay, bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử 02 lần, cụ thể như sau: Ngày 06/9/2007 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” tại bản án số 23/2007/HS-ST với họ tên là Vàng A H1, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 03/10/2009 và các quyết định khác của bản án, đã được xóa án tích; Ngày 01/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 49/2013/HSST với họ tên là Vàng A H1, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 21/11/2015 và các quyết định khác của bản án, đã được xóa án tích. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và Công văn số 29/CCCP-PV06, ngày 02/5/2024 của Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Điện Biên đã xác định Vàng A H có vân tay đồng nhất với vân tay của Vàng A H1 và cùng là một người. Do bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ nên khi làm giấy tờ tên gọi không thống nhất, tên chính xác của bị cáo là Vàng A H. Bị cáo Vàng A H đã nhiều lần bị Tòa án xét xử nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân lại tiếp tục phạm tội trong vụ án này, do đó bị cáo là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Khi bị bắt giữ bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp chính là làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định, bản thân bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Vật chứng là 1,73 (một phẩy bẩy mươi ba) gam Heroine hoàn lại sau khi giám định (theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 08/4/2024 giữa Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và Công an huyện N) và 01 mảnh nilon màu xanh, 10 mảnh nilon màu trắng, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tịch thu tiêu hủy.
Xét đề nghị của người bào chữa: Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung Cáo trạng cũng như luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, vì hành vi phạm tội của bị cáo là rõ ràng. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhân thân và hoàn cảnh, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức đề nghị thấp nhất của vị đại diện Viện kiểm sát. Xét đề nghị của người bào chữa là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên và người bào chữa, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong vụ án Vàng A H khai đã mua Heroine của 01 người đàn ông dân tộc Thái không quen biết vào sáng ngày 24/3/2024 tại khu vực bản Chiềng Nưa, xã S, huyện N, tỉnh Điện Biên. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ của người đàn ông này ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là dân tộc thiểu số (dân tộc Mông) sống tại xã S, huyện N, tỉnh Điện Biên là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng A H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 26/3/2024.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 1,73 (một phẩy bẩy mươi ba) gam Heroine hoàn lại sau khi đã giám định (theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định giữa Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N vào ngày 08/4/2024).
- Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh, 10 mảnh nilon màu trắng.
(Vật chứng được đựng trong 02 phong bì niêm phong như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A H.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Vàng A H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 27/6/2024./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện N; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Phòng KTNV&THA – TAND tỉnh; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Bộ phận HSNV Công an huyện N; - Cơ quan CSĐT CA huyện N; - Cơ quan THAHS CA N; - Nhà tạm giữ CA huyện N - Chi cục THADS huyện N; - Cơ quan THAHS CA tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu HS: VA, THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Sao |