vanban.org

Bản án 53/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 02/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 07/10/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2024/HS-ST
Ngày 02 ngày 02 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Sơ và ông Nguyễn Đức Việt

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát V.

Ngày 02 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Quàng Văn T. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 05 tháng 10 năm 1980, tại: huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT: Bản L, xã C, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Chức vụ ĐTĐP: Không. Con ông: Quàng Văn N, sinh năm 1949 và bà Lò Thị L, sinh năm 1956. Bị cáo có vợ là Lò Thị V, sinh năm 1984, có 03 con (lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2007). Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2023 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lò Thị V, sinh năm 1984. Địa chỉ: Bản Lù, xã C, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 25 phút ngày 07/10/2023, Quàng Văn T điều khiển xe môtô hiệu HONDA WAVE RSX màu đen, biển kiểm soát 26B1 - 204.12 đi từ nhà đến thị trấn H, huyện Mai Sơn tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến đường Quốc lộ 6 thuộc địa phận tiểu khu 21, thị trấn H, gặp người đàn ông tên Hải (không biết năm sinh, địa chỉ) đang đứng ở đường, T dừng xe hỏi mua được 200.000VND Heroine tại một địa điểm do Hải chỉ định. Sau khi nhận được ma túy, Hải cầm miếng xốp chứa gói ma túy kẹp vào giá để hàng phía trước của xe mô tô rồi điều khiển xe đi ra đường Quốc lộ 6 thì bị tổ công tác Công an thị trấn H, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng là 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine. Quàng Văn T khai đó là gói Heroine của T mục đích tàng trữ để sử dụng. Ngoài ra, còn tạm giữ của T: 01 điện thoại di động hiệu Model G500 màu đen, kèm theo 02 sim diện thoại di động; 01 xe mô tô hiệu HON DA WAVE RSX màu đen, biển kiểm soát 26B1 - 204.12; 01 miếng xốp màu trắng kích thước 8,2cm x 5,7cm x 3,5cm.

Ngày 07/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La T lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của Quàng Văn T, kết quả: Khối lượng chất bột màu trắng là 0,25 gam, lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu M trưng cầu giám định.

Tại bản kết luận giám định số 1460/KLMT ngày 08/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

“Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma tuý; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,25 gam.

Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,25 gam; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Do có hành vi nêu trên, tại Bản cáo trạng số 09/CT-VKSMS ngày 18/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Quàng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Quàng Văn T từ 14 đến 18 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì do Công an huyện Mai Sơn phát hành trong chứa vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 03 mảnh nilon màu xanh được niêm phong theo quy định; 01 phong bì do Công an huyện Mai Sơn phát hành bên trong chứa 01 miếng xốp màu trắng kích thước 8,2cm x 5,7cm x 3,5cm được niêm phong theo quy định.

Trả lại cho bị cáo Quàng Văn T 01 điện thoại di động hiệu Model G500 màu đen, số IMEI 1: 3552302040325, IME 2: 355230204032522, đã qua sử dụng.

Trả cho chị Lò Thị V 01 xe máy nhãn hiệu HON DA WAVE RSX, màu đen đỏ, biển kiểm soát 26B1 - 204.12, số mãy JC43E6184699, số khung RLHJ432XBY253721, xe đã qua sử dụng.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác nhận chiếc xe máy là tài sản chung của vợ chồng, việc bị cáo sử dụng xe đi để tàng trữ ma túy chị không biết nên đề nghị xin lại chiếc xe máy để làm phương tiện đi lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, điều tra V, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát V trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận ngày 07/10/2023, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,25 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại khu vực tiểu khu 21, thị trấn H, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, bị cáo bị Tổ công tác Công an thị trấn H, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang và thu giữ số ma túy tàng trữ trái phép trên.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, các lời khai của bị can trong quá trình điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Quàng Văn T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Xét về tính chất:

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển và lưu hành trên thị trường, bị cáo vẫn cố tình tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo T khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử cân nhắc hình phạt phù hợp với tính chất và tương xứng với khối lượng ma túy bị cáo bị thu giữ, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng có giá trị. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì do Công an huyện Mai Sơn phát hành trong chứa vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 03 mảnh nilon màu xanh được niêm phong theo quy định; 01 phong bì do Công an huyện Mai Sơn phát hành bên trong chứa 01 miếng xốp màu trắng kích thước 8,2cm x 5,7cm x 3,5cm được niêm phong theo quy định. Đây là đồ vật liên quan đến hành vi tàng trữ ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Model G500 màu đen. Trong quá trình điều và tại phiên tòa xác đinh: Đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Quàng Văn T.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu HON DA WAVE RSX, màu đen đỏ, biển kiểm soát 26B1 - 204.12. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe là tài sản chung của bị cáo và vợ là chị Lò Thị V, sinh năm 1984. Bị cáo sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi mua ma túy và cất giấu ma túy. Tuy nhiên, chị V không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe để đi mua và cất giấu ma túy, có nguyện vọng xin lại tài sản để làm phương tiện đi lại. Do đó, cần trả lại cho chị Lò Thị V.

Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy, Quàng Văn T khai mua của một người đàn ông tên Hải (không biết năm sinh, địa chỉ), việc mua bán không có ai cùng tham gia, chứng kiến. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không có căn cứ để xác minh mở rộng vụ án. Buộc bị can Quàng Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự khối lượng 0,25 gam Heroine thu giữ trong vụ án.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 07/10/2023).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì do Công an huyện Mai Sơn phát hành trong chứa vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 03 mảnh nilon màu xanh được niêm phong theo quy định; 01 phong bì do Công an huyện Mai Sơn phát hành bên trong chứa 01 miếng xốp màu trắng kích thước 8,2cm x 5,7cm x 3,5cm được niêm phong theo quy định.

Trả lại cho bị cáo Quàng Văn T 01 điện thoại di động hiệu Model G500 màu đen, số IMEI 1: 355230204032514, IME 2: 355230204032522, đã qua sử dụng.

Trả cho chị Lò Thị V 01 xe máy nhãn hiệu HON DA WAVE RSX, màu đen đỏ, biển kiểm soát 26B1 - 204.12, số mãy JC43E6184699, số khung RLHJ432XBY253721, xe đã qua sử dụng kèm chìa khóa.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 54/BB-CCTHADS ngày 29/01/2024 giữa Công an huyện Mai Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Sơn).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ