- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Huỳnh L. Chị Võ Thị Huỳnh L được ly hôn với anh Lê Vũ Phương
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13-5-2024 V/v:“Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Phong
Ông Nguyễn Văn Tưởng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Nhựt – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại phòng xét xử của Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình oHo6nthụ lý số: 307/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Võ Thị Huỳnh L, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Số nhà A, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Bị đơn: Anh Lê Vũ P, sinh năm 1999. Nơi cư trú:Ấp Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn chị Võ Thị Huỳnh L trình bày:
Tôi và anh Lê Vũ P kết hôn với nhau vào năm 2019 hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19/7/2019. Thời gian sống chung vợ chồng có 01 con chung Lê Trọng N, sinh ngày 02/4/2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau này xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hai bên đã cố gắng vun đắp và hàn gắn hạnh phúc gia đình mà không giải quyết được. Nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Tôi yêu cầu được ly hôn với anh Lê Vũ P
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng vợ chồng: Không có yêu cầu
- Về con chung: Cháu Lê Trọng N, sinh ngày 02/4/2018 hiện đang sống với cha là anh Lê Vũ P, tôi đồng ý để anh P trực tiếp nuôi dưỡng con chung, tôi không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn anh Lê Vũ P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Huỳnh L về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn anh Lê Vũ P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, anh Lê Vũ P không đến Tòa để tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70,72 của Bộ luật tố Tụng Dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Võ Thị Huỳnh L. Chị Võ Thị Huỳnh L được ly hôn với anh Lê Vũ P. Chị Võ Thị Huỳnh L không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng nên không xem xét.
Về con chung: Anh Lê Vũ P được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Trọng N, sinh ngày 02/4/2018, chị Võ Thị Huỳnh L không cấp dưỡng nuôi con do anh P không có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Võ Thị Huỳnh L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Võ Thị Huỳnh L vụ án có quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn”, bị đơn anh Lê Vũ P có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre có thẩm quyền giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Nguyên đơn chị Võ Thị Huỳnh L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Lê Vũ P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn không có mặt. Việc vắng mặt không rõ lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt chị Võ Thị Huỳnh L, anh Lê Vũ P là đúng theo quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét thấy, chị Võ Thị Huỳnh L và anh Lê Vũ P có tìm hiểu nhau mới tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân của anh chị được xây dựng trên tinh thần tự nguyện và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Về hôn nhân: Sau khi kết hôn chị Võ Thị Huỳnh L và anh Lê Vũ P có thời gian sống chung hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống, vợ chồng không thể hàn gắn được. Theo biên bản xác minh ngày 29/3/2024 của Tòa án đối với ông Lê Văn T là cha ruột của anh Lê Vũ P cho biết: Chị Võ Thị Huỳnh L và anh Lê Vũ P tiến đến hôn nhân là do tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, trong thời gian sống chung thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không đáng kể về chuyện tiền bạc nhưng vợ chồng không hòa giải, hàn gắn được chị L đã về gia đình cha mẹ ruột sống từ năm 2021 cho đến nay. Vợ chồng có một con chung cháu Lê Trọng N hiện đang sống với anh P và gia đình ông. Ông mong muốn vợ chồng chị L, anh P hàn gắn để lo cho con chung, nếu không hàn gắn được và chị L cương quyết ly hôn thì ông đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các giấy báo cho anh Lê Vũ P, nhưng anh P không đến Tòa án. Như vậy, cho thấy anh Lê Vũ P biết việc chị Võ Thị Huỳnh L yêu cầu ly hôn với anh tại Tòa án nhưng anh không đến Tòa án theo nội dung đã thông báo, triệu tập chứng tỏ anh Lê Vũ P không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng, không muốn vợ chồng hòa giải đoàn tụ với nhau. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Võ Thị Huỳnh L và anh Lê Vũ P đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Võ Thị Huỳnh L yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Vũ P là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Cháu Lê Trọng N, sinh ngày 02/4/2018 hiện đang sống chung với cha là anh Lê Vũ P, chị Võ Thị Huỳnh L đồng ý giao con chung cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng, nên để con chung cho anh P nuôi dưỡng là đúng quy định của pháp luật, chị Võ Thị Huỳnh L không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Lê Vũ P không có yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Võ Thị Huỳnh L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị Võ Thị Huỳnh L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng: Chị Võ Thị Huỳnh L không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Võ Thị Huỳnh L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo qui định tại Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Huỳnh L. Chị Võ Thị Huỳnh L được ly hôn với anh Lê Vũ Phương
Về nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng: Chị Võ Thị Huỳnh L không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
2. Về con chung: Anh Lê Vũ P được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Trọng N, sinh ngày 02/4/2018, chị Võ Thị Huỳnh L không phải cấp dưỡng nuôi con do anh P không có yêu cầu nên không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ, cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con
3. Về tài sản chung: Chị Võ Thị Huỳnh L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị Võ Thị Huỳnh L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị Huỳnh L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007036 ngày 25/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;
6. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND huyện Thạnh Phú; - Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre; - Chi cục THADS huyện Thạnh Phú; - UBND xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đặng Văn Phương |