- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Công N tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Công N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/HSST Ngày 23/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Lan Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đình Cự
2. Ông Nguyễn Hữu Hiển
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Thể - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Đại diện VKSND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà:
Bà Phạm Thị Yến - Kiểm sát viên
Ngày 23/6/2023 tại trụ sở nhà văn hóa xã Q, huyện ĐH, tỉnh TB, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2023/TLST- HS ngày 31 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Công N, sinh năm 1972; Tên gọi khác: Không;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn HT, xã ĐC, huyện ĐH, tỉnh TB;
Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Con ông: Phạm Công T (Đã chết); Con bà: Phạm Thị H (Đã chết);
Vợ: Nguyễn Thị H1;
Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2013;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tháng 9/1991 tham gia nghĩa vụ quân sự, đến tháng 8/1993 xuất ngũ về địa phương.
Bản án hình sự sơ thẩm số 157/HSST ngày 17/10/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt N 04 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản, buộc N bồi thường cho bị hại 100.000 đồng, phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 50.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. N kháng cáo, Bản án hình sự phúc thẩm số 221 ngày 13/02/2001 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội bác đơn kháng cáo của Phạm Công N, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm, buộc N phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. N được đặc xá tha tù trước thời hạn từ ngày 01/9/2002. Tháng 6/2001 N đã nộp xong các khoản án phí, bồi thường xong cho bị hại từ năm 2003.
Bị cáo bị nhiễm Virus suy giảm miễn dịch (HIV) không triệu chứng. N đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa ĐH.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/4/2023 đến 16/4/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh TB.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
* Người chứng kiến:
1. Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1979,
Địa chỉ: Thôn N, xã ĐP, huyện ĐH, tỉnh TB
2. Ông Hoàng Văn T2, sinh năm 1952
Địa chỉ: Tổ 4, thị trấn ĐH, huyện ĐH, tỉnh TB
(Tại phiên tòa vắng mặt ông T1, ông T2)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 13/4/2023, tại khu vực đường Quốc lộ 10 thuộc tổ 1, thị trấn ĐH, huyện ĐH, tỉnh TB, Công an huyện ĐH, tỉnh TB bắt quả tang Phạm Công N có hành vi tàng trữ trái phép tại túi quần bên phải phía trước đang mặc 01 gói ma túy loại Hêrôin, có khối lượng 0,1267 gam.
Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 13/4/2023, N đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết lên Bệnh viện Đa khoa ĐH để khám và lấy thuốc điều trị HIV. Tại quán nước ở khu vực trước cổng Bệnh viện. N nghe thấy một số người đi uống thuốc Methadone nói chuyện với nhau ở khu vực cổng Công ty LS tại xã ĐL, huyện ĐH có người đàn ông khoảng 47 tuổi, dáng người gầy bán ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên N đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông trong nhóm trên sang khu vực công ty LS để tìm mua ma túy. Đến nơi, N xuống xe đi bộ thì thấy người đàn ông có đặc điểm như những người trên mô tả đang đứng ở ven đường. N hỏi mua của người này 200.000 đồng ma túy loại Hêrôin. Người này đồng ý. N đưa tiền và người này đưa lại cho N 01 gói nhỏ được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ. N cầm gói ma túy cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi bộ theo hướng Quốc lộ 10 từ xã ĐL đi thị trấn ĐH để về Bệnh viện Đa khoa ĐH; khi N đi đến địa phận tổ 1, thị trấn ĐH thì bị tổ công tác Công an huyện ĐH phối hợp với Công an thị trấn ĐH yêu cầu dừng lại kiểm tra vì có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. N chấp hành và tự nguyện lấy 01 gói nhỏ được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ từ túi quần bên phải phía trước đang mặc ra giao nộp cho cơ quan Công an trước sự chứng kiến của ông Hoàng Văn T1 và ông Hoàng Văn T2. Tổ công tác tiến hành kiểm tra bên trong gói nhỏ có chứa chất bột màu trắng dạng cục, N khai đó là ma túy Hêrôin, mua để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong gói ma túy trên, sau đó yêu cầu N và mời hai người chứng kiến về UBND thị trấn ĐH, huyện ĐH tỉnh TB lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Kết luận giám định số 532/KL-KTHS ngày 14/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TB, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,1267 gam (Không phẩy một nghìn hai trăm sáu mươi bẩy gam).
Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSĐH ngày 30/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Công N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà sơ thẩm:
Bị cáo Phạm Công N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Phạm Công N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Công N từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2023.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định. Ngoài ra còn đề nghị án phí.
Bị cáo Phạm Công N nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện ĐH, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đến thời điểm xét xử đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa như:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu và Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Lời khai của những người chứng kiến: ông Hoàng Văn T2, ông Hoàng Văn T1.
Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 13/4/2023, tại khu vực đường Quốc lộ 10 thuộc tổ 1, thị trấn ĐH, huyện ĐH, tỉnh TB, Công an huyện ĐH tỉnh TB bắt quả tang Phạm Công N có hành vi tàng trữ trái phép 0,1267 gam ma túy loại Hêrôin, với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước ta về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo thể hiện tính coi thường pháp luật. Vì vậy, cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Bị cáo có nhân thân không tốt, 01 lần bị xét xử về tội cướp tài sản. Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có thời gian tham gia quân đội nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu huỷ.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai mua ma túy của người đàn ông khoảng 47 tuổi, dáng người gầy ở khu vực cổng Công ty LS thuộc địa phận xã ĐL, huyện ĐH. Cơ quan điều tra không xác định được nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
Về nguồn gốc số tiền 200.000 đồng dùng vào việc mua ma túy là do bị cáo lao động mà có.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Công N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Công N 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ 0,1062 gam ma túy loại Hêrôin thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định được đựng trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 532/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TB. (Được thể hiện chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2023 giữa Công an huyện ĐH và Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐH)
4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Công N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - TAND tỉnh Thái Bình; - Sở tư pháp Thái Bình; - VKSND huyện Đông Hưng; - THADS huyện ĐH; - Công an huyện ĐH; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Phạm Thị Lan Phương |