- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Thanh T phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/HS-ST Ngày 08-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Mộng Thu;
2. Bà Huỳnh Anh Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 và 08 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Lâm Thanh T, sinh ngày 03/9/2000 tại Sóc Trăng; thường trú: Ấp V, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm T1, sinh năm 1975 và bà Thạch Thị Sa Q, sinh năm 1975; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Thanh V – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bị hại: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1975 (đã chết). Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Ông Phạm Hồng Đ, sinh năm 1949; địa chỉ: Thôn 5, xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Nông (cha). Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị P, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ 4, ấp B, xã B, thị xã T, tỉnh Bình Dương (Giấy ủy quyền ngày 10/11/2022); có đơn xin vắng mặt;
+ Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1956; thường trú: Thôn P, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông; tạm trú: Tổ 4, ấp B, xã B, thị xã T, tỉnh Bình Dương (mẹ); có đơn xin vắng mặt;
+ Anh Vũ Quang V1, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn P, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông (con); có đơn xin vắng mặt;
+ Anh Vũ Văn H, sinh năm 2004; địa chỉ: Thôn P, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông (con); có đơn xin vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Bà Nguyễn Thị T2; vắng mặt.
+ Ông Ngô Phước Ng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lâm Thanh T không có giấy phép lái xe môtô theo quy định. Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 15/01/2020, T điều khiển xe mô tô biển số 83P4 – 327.56 chở Ngô Phước Ng ngồi phía sau lưu thông trên đường ĐT746 theo hướng từ cầu Ô thuộc khu phố 5, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương về hướng xã M, huyện B, tỉnh Bình Dương. Khi lưu thông đến đoạn đường giao nhau ngã ba (có đèn tín hiệu) thuộc khu phố 5, phường U, T điều khiển xe không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ (vượt đèn đỏ), không đảm bảo an toàn dẫn đến bánh xe phía trước của xe 83P4-327.56 va chạm vào gác chân bên trái xe mô tô biển số 48D1-080.15 do bà Phạm Thị L điều khiển chở bà Nguyễn Thị T2 lưu thông cùng chiều phía trước. Sau va chạm, xe mô tô biển số 48D1-080.15 ngã về bên phải, bà Phạm Thị L và bà Nguyễn Thị T ngã xuống đường. Hậu quả bà L bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế thị xã T và tử vong vào ngày 16/01/2020, bà T2 không bị thương tích.
Đội Cảnh sát Giao thông Công an thị xã T đã tiếp nhận vụ việc, tiến hành các hoạt động xác minh ban đầu và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T để xác minh, điều tra làm rõ vụ việc theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T tạm giữ vật chứng và các tài liệu đồ vật có liên quan gồm: Xe mô tô biển số 83P4-327.56 và xe mô tô biển số 48D1-080.15.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường xảy ra tai nạn là đoạn đường ngã ba đường ĐT746 thuộc khu phố 5, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Đường trải nhựa, mặt đường bằng phẳng, chiều rộng mặt đường là 11m, giữa đường có vạch sơn trắng liền nét chia mặt đường thành hai phần bằng nhau.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 51/GĐPY ngày 19/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của Phạm Thị L là do đa chấn thương, chấn thương sọ não, vỡ lún xương sọ, dập não, xuất huyết tụ máu não.
Xe mô tô biển số 83P4-327.56 do Lâm Thanh T đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ngày 15/01/2020, T điều khiển xe tham gia giao thông thì gây tai nạn. Ngày 17/10/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 66 trả xe này cho T.
Xe mô tô biển số 48D1-080.15 do bà Phạm Thị L đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ngày 17/10/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 66 trả lại xe này cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Phạm Thị P.
Về trách nhiệm dân sự: Lâm Thanh T đã thỏa thuận và bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Đại diện bị hại có đơn xin bãi nại và không yêu cầu gì khác.
Bản Cáo trạng số 34/CT-VKSTU ngày 09/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lâm Thanh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lâm Thanh T từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Không đặt ra xem xét.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày tranh luận: Thống nhất về tội danh mà đại diện Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo, tuy nhiên mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là chưa phù hợp vì trong vụ án này bị hại cũng có lỗi khi vượt đèn đỏ dẫn đến va chạm với bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có đủ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tu ̣c tố tu ̣ng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Đại diện bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, những người làm chứng vắng mặt. Quá trình điều tra, lời khai của những người này không mâu thuẫn với lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo và bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt những người này. Xét thấy, việc vắng mặt đại diện bị hại và những người làm chứng không làm ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với những chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Lâm Thanh T không có giấy phép lái xe theo quy định. Ngày 15/01/2020, Lâm Thanh T điều khiển xe môtô biển số 83P4-327.56 chở ông Ngô Phước Ng lưu thông trên đoạn đường thuộc khu phố 5, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ (vượt đèn đỏ) dẫn đến bánh xe phía trước của xe 83P4-327.56 va chạm vào gác chân bên trái xe mô tô biển số 48D1-080.15 do bà Phạm Thị L điều khiển chở bà Nguyễn Thị T2 chạy cùng chiều phía trước. Hậu quả bà Phạm Thị L tử vong.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả làm một người chết nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông là do ý thức chấp hành luật giao thông của người tham gia giao thông. Hiện nay, Đảng và Nhà nước đã có nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông, xử lý nghiêm các vi phạm của người tham gia giao thông. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông được Nhà nước và pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại về tính mạng, tài sản của người khác. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là chưa phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, đại diện bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lâm Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lâm Thanh T 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng hinh sự, Điều 23
̀ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ y ban thương vu ̣
̀ Quốc hội khóa 14 quy đi ̣nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Lâm Thanh T chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - PV06, Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã T; - Công an thị xã T; - Chi cục THADS thị xã T; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Tâm |