vanban.org

Bản án 53/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 26/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Viết C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Viết C 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/12/2022. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số Heroin thu được của bị cáo Trần Viết C còn lại sau khi giám định là 0,1392 gam và bao gói. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Viết C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Viết C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HS - ST
Ngày 26 - 4 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Đức

2. Ông Phạm Đức Toàn

- Thư ký phiên Tòa: Bà Mai Thị Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên Tòa: Ông Bùi Quang Dương.

Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2023/TLST - HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39A/2023 ngày 20/3/2023, quyết định hoãn phiên Tòa số 12/2023 ngày 31/3/2023; thông báo thay đổi thời gian mở phiên Tòa số 11/2023 ngày 05/4/2023 đối với: Bị cáo: Trần Viết C, sinh ngày 05 tháng 5 năm 1975 tại Thái Bình. Nơi cư trú: Số nhà 11, ngõ 56, đường Trần KD, tổ 11, phường BX, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K và bà Trương Thị T; vợ: Phạm Thúy V (Đã ly hôn); có 01 con;

Nhân thân:

- Bản án số 54/HSST ngày 31/05/2001 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Bình (nay là thành phố Thái Bình) xử bị cáo Trần Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Phạt C 09 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/02/2001, đến ngày 16/11/2001 chấp hành xong hình phạt tù; về án phí hình sự sơ thẩm C phải chịu 50.000 đồng, năm 2002 C chấp hành xong án phí. - Bản án số 120/HSST ngày 21/10/2004 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt Trần Văn C về tội “Trộm cắp tài sản”. Phạt C 30 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 10/07/2004, đến ngày 01/07/2006 chấp hành xong hình phạt tù; về án phí hình sự sơ thẩm C phải chịu 50.000 đồng, 29/8/2005 C chấp hành xong án phí.

- Bản án số 10/2008/HSST ngày 07/03/2008 của Tòa án quân sự khu vực quân khu Thủ Đô Hà Nội xử phạt Trần Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt C 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/08/2007. Đến 21/7/2012 C chấp hành xong; buộc C phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Đến 13/05/2008 C chấp hành xong án phí.

- Quyết định số 748/QĐ-CT của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình về việc áp dụng biện pháp đưa vào trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động Xã hội đối với Trần Viết C, thời hạn 12 tháng, kể từ ngày 26/03/2013 đến ngày 26/03/2014, C chấp hành xong.

- Quyết định số 19/2019/QĐ-TA ngày 21/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Viết C, với thời hạn là 20 tháng, kể từ ngày 17/01/2019 đến 17/09/2020, C chấp hành xong;

Tiền án:

- Bản án số 25/HSST ngày 25/02/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt Trần Văn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân” và “Trộm cắp tài sản công dân”. Phạt C 03 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 06/08/1997. Buộc C phải bồi thường 14.460.000 đồng cho những người sau đây: Bà Đào Thị Tuyết, số nhà 272, phố Lý Bôn, phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình số tiền 5.900.000 đồng; Chị Phạm Thị Vĩnh, tổ 17, phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, số tiền 820.000 đồng. Đối với khoản tiền của chị Tuyết, chị Vĩnh, phòng thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình (nay là Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình) đã ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án số 22 ngày 13/9/1999 với lý do người phải thi hành án điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản thu nhập. Đối với khoản tiền bồi thường anh Võ Tiến Dũng, số nhà 41, phố Lý Bôn, phường Bồ Xuyên thành phố Thái Bình, số tiền 1.020.000 đồng; anh Bùi Văn Thái, số nhà 72, phố Minh Khai, phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, số tiền 2.700.000 đồng; chị Nguyễn Thị Huyền, số nhà 15, phố Minh Khai, phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, số tiền 4.020.000 đồng đến thời điểm hiện tại chưa có đơn yêu cầu thi hành án nên đã hết thời hiệu thi hành án; ngoài ra bản án còn buộc C phải nộp số tiền thu lời bất chính là 1.480.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước và nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 720.000 án phí dân sự sơ thẩm. Tổng hai khoản là 2.250.000 đồng án phí. Đến ngày 02/09/2000, C chấp hành xong hình phạt tù. Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã ra quyết định miễn giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước số 11/2009/TA-QĐ ngày 06/10/2009. Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình đã ra quyết định đình chỉ thi hành án số 24/QĐ-THA ngày 23/10/2009, đình chỉ thi hành khoản án phí và tịch thu sung công số tiền là 2.250.000 đồng đối với C; tiền sự: Không.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 14/12/2022 đến ngày 17/12/2022 chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. (Bị cáo có mặt tại phiên Tòa).

* Người chứng kiến:

- Anh Lê Thanh T, sinh năm 1970. Nơi cư trú: số nhà 08, đường PBV, tổ 18, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Anh Lê Thanh T1, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn TM, xã TB, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

(Vắng mặt: anh T, anh T1 ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 14/12/2022, Trần Viết C đi xe ôm của người không quen biết từ nhà đến khu vực đường Đồng Lôi, tổ 03, phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thì xuống xe đi bộ với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, C gặp và hỏi mua được của một người nam giới khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ một gói Heroine với giá 200.000 đồng. Sau đó, C cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày khi C đi đến khu vực đường Đồng Lôi, tổ 04, phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thì tổ công tác Công an thành phố Thái Bình phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Lê Thanh T và anh Lê Thanh T1, C đã tự giác đưa từ lòng bàn tay trái ra giao nộp cho tổ công tác một gói, bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, mở ra bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, C khai nhận đó là Heroin C mua về với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Tại kết luận giám định số 459/KL-KTHS(MT) ngày 17/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật quản lý của Trần Viết C gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1551 gam.

Tại phiên Tòa, bị cáo C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố đối với bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 43/CT- VKSTPTB ngày 02/3/2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Trần Viết C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo C về tội danh và điều luật như bản cáo trạng số 43/CT- VKSTPTB và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sư đối với bị cáo Trần Viết C. Xử phạt bị cáo C từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/12/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung, đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo C không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên về bản luận tội đối với bị cáo tại phiên Tòa. Bị cáo C nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên,Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo, người chứng kiến không khiếu nại hay có ý kiến gì nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên Tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 459/KL-KTHS(MT) ngày 17/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; lời khai của những người chứng kiến: Anh Lê Thanh Tùng, anh Lê Thanh Tân và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/12/2022 tại khu vực đường Đồng Lôi, tổ 04, phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an thành phố Thái Bình Thái Bình phát hiện bắt quả tang bị cáo Trần Viết C có hành vi tàng trữ trái phép một gói ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1551 gam, mục đích để sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo C đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;

…

c) Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

. Đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo C đã có hành vi tàng trữ trong người một gói ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1551 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền và các quy định của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân xấu và có một tiền án. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Trần Viết C thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo bị áp dụng tình tiết tặng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt:

. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và nhân thân cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội cai được ma túy đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.

.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo C có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Đối với số Heroin, Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo C còn lại sau khi giám định là 0,1392 gam và bao gói, cần áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về nguồn gốc Heroin: Tài liệu điều tra xác định bị cáo Trần Viết C mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ tại khu vực đường Đồng Lôi, tổ 03, phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và người xe ôm đã C đi mua ma túy, C khai không biết tên, tuổi, địa chỉ và không nói cho người xe ôm biết việc đi mua ma túy, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh xử lý.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

.Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Viết C có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016/UBTVQH.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Viết C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Viết C 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/12/2022.

3. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số Heroin thu được của bị cáo Trần Viết C còn lại sau khi giám định là 0,1392 gam và bao gói.

(Số vật chứng trên Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình có đặc điểm mô tả như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/3/2023).

4. Về án phí: Bị cáo Trần Viết C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Viết C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/4/2023).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ