- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/HS-ST Ngày: 07-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Quang Chung; bà Trần Thị Nhung.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2023; tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định. Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2023/TLST-HS ngày 10-02-2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST-HS ngày 23-02-2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Thị T - sinh năm 1985 tại tỉnh Yên Bái; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 5/8/114 đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số 15/10/496 đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Duy V và bà Nguyễn Thị H; có chồng Nguyễn Tiến Đ và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 21-11-2022, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 30-11-2022 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Anh Đồng Xuân H, chị Phạm Thị Thu H (không triệu tập tới phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 21-11-2022, Tổ công tác Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực ngã tư đường N - Đông A, phường L, thành phố N phát hiện Bùi Thị T có hành vi bán ma túy cho Đinh Viết T, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số 607 đường Điện Biên, phường Lộc Hòa, thành phố N, tỉnh Nam Định. Tổ công tác đã mời người làm chứng việc bắt giữ. Quá trình bắt giữ, Tổ công tác đã phát hiện, thu giữ trên tay phải của T 01 gói nilong màu đen, mở kiểm tra bên trong là gói giấy bạc màu trắng trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai đó là 01 gói Heroine T vừa mua của T với giá 100.000 đồng) và thu giữ trong túi áo bên phải T đang mặc 100.000 đồng (T khai đó là tiền T vừa bán gói Heroine cho T). Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng ký hiệu M, đưa T, T và mời người làm chứng về trụ sở Công an thành phố N lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Tổ công tác còn tạm giữ của T 01 xe máy điện biển kiểm soát MĐ1-174.41 (đã cũ).
Bản Kết luận giám định số 1691/KL-KTHS ngày 23-11-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng bọc nilong màu đen trong phong bì được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu: 0,039 gam (không phẩy không ba chín gam).
Tại Cơ quan Điều tra, Bùi Thị T khai nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho Đinh Viết T để kiếm lời; Đinh Viết T khai nhận hành vi mua trái phép chất ma túy của Bùi Thị T mục đích để sử dụng cho bản thân, cụ thể như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21-11-2022, T đang ngồi uống nước tại quán nước vỉa hè khu vực ngã tư đường Nguyễn Công Trứ - Đông A, phường Lộc Hòa, thành phố N thì có T đến gặp và hỏi T mua 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. T đồng ý và bảo T ngồi đợi ở quán nước. Sau đó, T điều khiển xe máy điện biển kiểm soát 18MĐ1-174.41 một mình đi đến khu vực ngõ 75 đường Trần Thái Tông, phường Lộc Vượng, thành phố N. Đến nơi, T dừng xe trước cổng một ngôi nhà trong ngõ (không nhớ rõ số nhà) và hỏi mua qua lỗ cổng 01 gói Heroine với giá 70.000 đồng. Trong nhà có người nhận tiền rồi đưa qua lỗ cổng cho T 01 gói Heroine bọc bên ngoài bằng nilong màu đen. Quá trình mua bán ma túy T không nhìn thấy người bán ma túy là ai. T cầm gói Heroine vừa mua cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi về quán nước gặp T. Tại quán nước, T đưa cho T 100.000 đồng. T nhận tiền và cất vào túi áo bên phải đang mặc rồi lấy 01 gói Heroine bọc ngoài bằng nilong màu đen từ túi quần bên phải đang mặc đưa cho T. T vừa cầm gói Heroine T đưa trên tay phải thì ngay lúc đó Cơ quan Công an bắt quả tang như đã nêu trên.
Cơ quan Điều tra đã tiến hành tra cứu tiền án, tiền sự của Đinh Viết T xác định T có 02 tiền án về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đều đã được xóa án tích. Do khối lượng Heroine tàng trữ là 0,039 gam dưới mức quy định không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính và trả tự do đối với T.
Bản Cáo trạng số 52/CT-VKS-TPNĐ ngày 09-02-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Bùi Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Bùi Thị T xác nhận trong quá trình Điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay dùng nhục hình. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng và khai nhận biết rõ hành vi mua ma túy về để bán kiếm lời là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do hám lợi nên đã tàng trữ với mục đích bán kiếm lời. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình Điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Thị T theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù; áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 ngàn đồng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Quá trình Điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Thị T có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; lời khai của những người làm chứng; bản Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 21-11-2022, tại khu vực ngã tư đường N - Đông A, phường L, thành phố N, Bùi Thị T đã có hành vi bán trái phép 0,039 gam Heroine cho Đinh Viết T mục đích để kiếm lời thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, khối lượng Heroine bị cáo mua bán là 0,039 gam. Như vậy, việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt: Xét bị cáo Bùi Thị T phạm tội lần đầu, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để bán kiếm lời nên Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy trong phong bì niêm phong số 1691/KL-KTHS là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy. Số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo Bùi Thị T là tiền bị cáo có được từ hành vi phạm tội của bản thân nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Bùi Thị T, do chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N đã tách ra để tiếp tục điều tra xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe máy điện biển kiểm soát MĐ1-174.41 thu giữ của bị cáo Bùi Thị T, bị cáo khai mượn của con riêng của chồng T là chị Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 2002; nơi cư trú: Số 15/10/496 đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định. Do chị N không biết việc T mượn xe để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N đã trả lại chiếc xe máy trên cho chị N là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Bùi Thị T bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Thị T 27 (hai bẩy) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 21 tháng 11 năm 2022.
- Phạt tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) đối với bị cáo.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 1691/KL-KTHS. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20-02-2023).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Bùi Thị T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Thị T được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND. tỉnh Nam Định; - VKSNDTP. N (02 bản); - Công an TP. N; - Chi cục THADSTP; - Lưu hồ sơ vụ án + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Nguyên |