vanban.org

Bản án 53/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 11/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Trần Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn C tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ K
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HS-ST
Ngày 11 tháng 5 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Đợi và ông Nguyễn Ngọc Anh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố K, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang tham gia

phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố K xét xử sơ

thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 46/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm

2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng

4 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn C, sinh năm 2000, tại: tỉnh An Giang; hộ khẩu thường trú:

tổ 11, khóm VP, phường P, thành phố K, tỉnh An Giang; chỗ ở: tổ 12, khóm CT1,

phường P, thành phố K, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Thợ Sơn bê; trình độ văn

hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt

Nam; con ông Trần Văn H, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1979;

anh, em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ ba.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 08/02/2023 cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Trần Văn H, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Tổ 12, khóm CT 1, phường B,

thành phố K, tỉnh An Giang (có mặt);

- Nguyễn Thị C1, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Tổ 12, khóm Châu

Thới 1, phường B, thành phố K, tỉnh An Giang (có mặt);

- Chung Tấn V, sinh năm 2002; Nơi cư trú: ấp VT, xã VH, huyện CT, tỉnh

An Giang (vắng mặt);

- Lư Thị D, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Tổ 24, ấp P, xã D, huyện P, tỉnh An

Giang (vắng mặt);

Người làm chứng: Phan Thanh Tâm (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 23/12/2022, lực lượng phối hợp Công an thành phố

Châu Đốc và Công an phường P, trên đường tuần tra, đến đường Nguyễn Văn Thoại, tổ 9, khóm 7, phường P, thành phố K, phát hiện Trần Văn C điều khiển xe mô tô biển số 67C1-762.56, có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe, kiểm tra, phát hiện trong hộc phía dưới ba ga xe C điều khiển có 01 điện thoại di động, hiệu Vivo Y21s, màu xanh, có gắn ốp lưng nhựa màu đen, bên trong ốp lưng có 01 túi nhựa quấn băng keo màu xanh, bên trong có 01 túi nhựa trong suốt, có rãnh khóa viền màu xanh, hàn kín, chứa tinh thể màu trắng. C khai ma túy đá, mua của người nữ tên Ngọc (không rõ lai lịch) ở trước cửa hàng xăng dầu “Trương Phát Thịnh”, đường Tân Lộ Kiều Lương, khóm CT1, phường B, thành phố K, giá 100.000 đồng, cất giấu để sử dụng, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) phong bì (vụ số: 228/KL-KTHS (MT-GT) ngày 03/01/2023) có in

dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ Hà, Nguyễn Văn Ây;

- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 67C1-762.56, trên than xe có dán chữ

GTR 150, nhãn hiệu Hon Da, số loại Winner x, màu sơn; Bạc, đỏ, đen số khung: RLHKC370XKY 043594, số máy: KC34E1090486, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y21s, màu xanh, số Imei1:

861128054602534. Số Imei 2: 861128054602526 có gắn sim số: 0522 824 353 mạng Vietnam mobible, dãy số 8984-0480-0033-0936-386 và ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu đen, trên ốp lưng có dòng chữ PUMA.

Căn cứ Kết luận giám định số 228/KL-KTHS (MT-GT) ngày 03/01/2023

của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh An Giang xác định: Mẫu gửi đến giám định ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1418 gam.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K khởi tố, tạm giam Trần Văn

C để điều tra xử lý.

Tại Cáo trạng số: 43/CT-VKSCĐ-HS ngày 12/4/2023 của Viện kiểm sát

nhân dân thành phố K đã truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù

hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác

có trong hồ sơ vụ án. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố

K truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1

Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng

pháp luật.

Ma túy là chất gây nghiê ̣n ảnh hưở ng nghiêm tro ̣ng đến sứ c khỏe, đờ i sống

tinh thần của con ngườ i, gây nguy hiểm đến trật tự xã hội, trực tiếp gây nên hiểm

họa HIV và là mầm móng, nguyên nhân kéo theo những loại tội phạm khác nên

Nhà nướ c ta đô ̣c quyền quản lý; nghiêm cấm mọi hoạt động sản xuất, tàng trữ,

mua bán, vận chuyển trái phép dưới mọi hình thức. Hành vi phạm tội của bị cáo

thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của

Nhà nước đối vớ i chất ma tuý, ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần

phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của

bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để bị cáo nhận

thức được sai lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội. Từ đó, mới cảnh tỉnh

được các phần tử khác trong xã hội, góp phần ngăn ngừa tội phạm, ổn định trật tự

xã hội, đảm bảo cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành

khẩn khai báo, ăn năn hối cải; thuộc thành phần nhân dân lao động, học lực thấp

nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Cho nên, đề nghị xem xét giảm nhẹ cho

bị cáo khi lượng hình.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1,

khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn C từ

01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung, do bị cáo nghiện ma túy, nghề nghiệp không ổn định

nên đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng các điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47

Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điểm a, b,

c khoản 2; các điểm a,b,c khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: Lượng ma túy còn lại sau giám định.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu

ViVo Y21s và ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu đen, trên ốp lưng có dòng chữ

PUMA.

- Trả cho ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị C1 01 (một) xe mô tô biển

kiểm soát: 67C1-762.56.

Trường hợp: Trần Văn C khai mua ma túy của người nữ tên Ngọc (không rõ

lai lịch). Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K tiếp tục làm rõ

xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng công bố. Bị cáo

thống nhất với các ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, để sớm quay về hòa nhập xã hội, chăm lo gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người

tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng

vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Trần Văn C

đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng về thời gian, địa điểm, mục đích và động cơ phạm tội cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 23/12/2022 Trần Văn C điều khiển xe mô tô biển số 67C1-762.56, có để hộc phía dưới ba ga xe 01 túi nhựa quấn băng keo màu xanh, bên trong có 01 túi nhựa trong suốt, có rãnh khóa viền màu xanh, hàn kín, chứa tinh thể màu trắng được giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1418 gam. C mua của người nữ tên Ngọc (không rõ lai lịch) giá 100.000 đồng, cất giấu để sử dụng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy”, tội phạm và hình phạt được quy định theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 01 (một) năm đến 05 (năm) tù.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính

sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng,

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử

nhận thấy:

Bị cáo Trần Văn C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân

nhận thức rõ hành vi cất giấu trái phép 0,1418 gam Methamphetamine để sử dụng

với lỗi cố ý; xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, phòng ngừa,

ngăn chặn và kiểm soát tệ nạn ma túy.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết

tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như

tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, thuộc thành phần lao động

nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Vì vậy, bị cáo đủ điều kiện được hưởng

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2

Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng, giảm nhẹ hình

phạt cho bị cáo trong khi lượng hình.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hiện tại trên địa bàn thành phố K

các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn

định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh tội phạm khác trong

xã hội. Do đó, việc buộc phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần

thiết, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị

cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo

dục bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức

hình phạt tù có thời hạn mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với

tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử

chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật

Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị

phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo không có

nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung

đối với bị cáo.

Về trách nhiệm của những người liên quan: Trần Văn C khai mua ma túy

của người nữ tên Ngọc (không rõ lai lịch). Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra

Công an thành phố K tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Lượng ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành. Vì vậy, tịch thu

tiêu hủy lượng ma túy.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y21s và ốp lưng điện thoại

bằng nhựa màu đen, trên ốp lưng có dòng chữ PUMA là tài sản bị cáo dùng để

liên hệ mua ma túy nên xét tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 67C1-762.56, quá trình điều tra cũng

như tại phiên tòa xác định đây là xe của ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị C1 mua, chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ và đây là phương tiện duy nhất trong gia đình để mưu sinh. Xét hoàn trả cho ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị C1 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 67C1-762.56.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng

cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Trần Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm

giam, ngày 08/02/2023 (ngày tám, tháng hai, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào các điểm a, c khoản

1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điểm a, b, c khoản 2; các điểm a,b,c khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì (vụ số: 228/KL-KTHS (MT-GT) ngày

03/01/2023) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ Hà, Nguyễn Văn Ây;

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu

ViVo Y21s, màu xanh, số Imei1: 861128054602534. Số Imei 2: 861128054602526 có gắn sim số: 0522 824 353 mạng Vietnam mobible, dãy số 8984-0480-0033-0936-386 và ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu đen, trên ốp lưng có dòng chữ PUMA.

Trả lại cho ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị C1: 01 (một) xe mô tô biển

kiểm soát: 67C1-762.56, trên than xe có dán chữ GTR 150, nhãn hiệu Hon Da, số loại Winner x, màu sơn; Bạc, đỏ, đen số khung: RLHKC370XKY 043594, số máy: KC34E1090486, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng

bên trong.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/4/2023 giữa Cơ quan Cảnh

sát điều tra Công an thành phố K với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố K).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng

hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí

hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, những người có mặt tại phiên tòa có

quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo những người vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày bản

án được giao hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án

dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi

hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật

Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều

30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ