vanban.org

Bản án 53/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Kiến An, TP. Hải Phòng Tuyên án 11/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Phạm Ngọc Q.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư có dấu niêm phong số 340MT/PC09 ngày 15/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Phạm Ngọc Q.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HS-ST
Ngày 11-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Lẫy

Ông Nguyễn Công Biên.

.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Hoàng Mạnh - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến (điểm cầu trung tâm là Tòa án nhân dân quận Kiến An, điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 317/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc Q, sinh ngày 20/6/1980 tại Nam Định. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã , huyện N, tỉnh Nam Định; nơi ở: Số 162 đường T, tổ G 1, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Đới Thị V; có vợ Ngô Thị Thanh T và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/5/2014, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 20 (Chấp hành xong án phạt tù ngày 18/5/2016; Thi hành xong án phí và tiền phạt ngày 16/7/2015, đã được xóa án tích); bị tạm giữ ngày 15/4/2023 đến ngày 20/4/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng. Có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Phạm Văn M. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 04 giờ 30 phút ngày 15/4/2023, Phạm Ngọc Q một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát: 18K1-327.64 đi đến khu vực đường tàu L, phường M, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilon có kích thước 2.5 cm x1.5 cm bên trong chứa ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Sau đó, Q cất giấu túi ma túy trên vào túi áo khoác bên trái phía trước đang mặc rồi đi về. Khi đi đến khu vực trước cửa số nhà 118 đường T, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Kiến An phát hiện, kiểm tra và bắt quả tang cùng vật chứng. Thu giữ tại túi áo khoác bên trái phía trước Q đang mặc có 01 túi nilon kích thước 2.5x1.5 cm bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát: 18K1-327.64.

Tại Kết luận giám định số 340/KL-KTHS(MT) ngày 17/4/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận:“Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,29 gam, loại: Heroine”.

Xét nghiệm nước tiểu của Phạm Ngọc Q, kết quả dương tính với ma túy, loại Heroine và Methadone.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Q ở số 162 đường T, tổ G 1, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Ngọc Q khai nhận phù hợp nội dung trên. Q không biết tên tuổi địa chỉ và không nhận dạng được người đàn ông đã bán ma túy. Q cất giữ ma túy với mục đích chỉ để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra phát hiện bắt giữ. Chiếc xe mô tô bị Cơ quan Công an thu giữ trên là tài sản chung của vợ chồng Q, mua năm 2017.

Bản cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Phạm Ngọc Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An giữ quyền công tố luận tội:

Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Phạm Ngọc Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 27 tháng đến 33 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 0,22 gam ma túy là Heroine còn lại sau giám định được niêm phong trong bì thư có chữ ký của những người có liên quan. Trả lại bị cáo 01 mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát: 18K1-327.64.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Hồi 05 giờ 20 phút ngày 15/4/2023, Phạm Ngọc Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,29 gam theo kết luận giám định là loại Heroine, nhằm mục đích để sử dụng cá nhân thì bị bắt quả tang tại khu vực trước cửa số nhà 118 đường đường T, tổ G 1, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng. Heroine là chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội, nằm trong Danh mục I, STT 9 ban hành kèm theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực nhận thức và năng lực hành vi nên việc cố ý cất giữ chất ma túy của bị cáo không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo đã 01 lần bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, mặc dù tiền án này đã được xóa án tích, nhưng điều đó cho thấy bị cáo có nhân thân xấu.

Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giúp bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Heroine là chất ma túy cấm lưu hành; vì vậy, tịch thu tiêu hủy bì thư niêm phong bên trong có chứa chất heroine, là phần còn lại sau giám định.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát: 18K1-327.64 Giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Phạm Ngọc Q. Tại phiên tòa, bị cáo khai chiếc xe trên là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng bị cáo, mua năm 2017; đây là lần đầu tiên bị cáo sử dụng chiếc xe này đi mua ma túy, vợ bị cáo không hề biết gì về việc này. Hội đồng xét xử thấy lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản ghi lời khai của vợ bị cáo ngày 05/5/2023, chiếc xe này chỉ là phương tiện để bị cáo đi lại, không liên quan trực tiếp đến việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nên không tịch thu, nộp ngân sách nhà nước mà trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Phạm Ngọc Qu tại khu vực đường tàu L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng ngày 15/4/2023. Hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Q 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ - ngày 15 tháng 4 năm 2023.

2. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Phạm Ngọc Q.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư có dấu niêm phong số 340MT/PC09 ngày 15/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng.

- Trả lại bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát: 18K1-327.64.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24 tháng 7 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Phạm Ngọc Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ