vanban.org

Bản án 53/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và

Tăng Hoàng K phạm tội “Đánh bạc”; Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức T và đồng bọn phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HS-ST
Ngày: 23 – 03 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Châu Thị Lệ

Bà Trương Thị Hồng Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân quận

Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 03 năm 2023 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2023/HSST ngày 14/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-HS ngày 03/3/2023 đối với các bị cáo:

1/ Lê Đức T; Giới tính: Nam; sinh năm 1976 tại tỉnh Tây Ninh; Hộ khẩu

thường trú: Phường 8, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Lê Đức A và bà Hoàng Thị T; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Nguyễn Thị Thanh X; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/11/2022 đến ngày 16/01/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt).

2/ Lê Đức H; Giới tính: Nam; sinh năm 1989 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú:

Phường 11, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Lê Xuân D và bà Nguyễn Thị T; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Nguyễn Thị Thanh T, có có 01 người con sinh năm 2018; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/11/2022 đến ngày 16/01/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt).

3/ Trần Công H; Giới tính: Nam; sinh năm 1997 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư

trú: Phường 8, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Trần Văn Đ và bà Trần Thị T; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/11/2022 đến ngày 16/01/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt).

4/ Phạm Đình T; Giới tính: Nam; sinh năm 1986 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng

Tàu; Nơi thường trú: xã Đức Minh, huyện Đak Mil, tỉnh Đắk Nông; Nơi cư trú: Phường 2, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Phạm Trọng L và bà Trần Thị H; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/11/2022 đến ngày 16/01/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt).

5/ Tăng Hoàng K; Giới tính: Nam; sinh năm 1989 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi

thường trú: Phường 8, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 08/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Tăng Khải N và bà Văn Thị M; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Bùi Thị Kim H, có 01 người con sinh năm 2012; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/11/2022 đến ngày 16/01/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt);

Bào chữa cho bị cáo Lê Đức H, có bà Nguyễn Thị Tình, luật sư - thuộc

đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.(có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 12 giờ 45 phút ngày 25/11/2022, Đội Cảnh sát hình sự Công an

quận Gò Vấp phối hợp với Công an Phường 8, quận Gò Vấp bắt quả tang Lê Đức T đang tổ chức cho Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và Tăng Hoàng K đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài phỏm tại quán cà phê do T làm chủ ở địa chỉ Phường 8, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Công an Phường 8 đưa các con bạc về trụ sở làm việc, lập hồ sơ chuyển Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp điều tra xử lý theo thẩm quyền (BL: 95-186).

Quá trình điều tra, các bị can đã khai nhận như sau: Vào khoảng 10 giờ 30

phút ngày 25/11/2022, Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và Tăng Hoàng K ngồi uống nước tại quán cà phê của Lê Đức T tại địa chỉ: Phường 8, quận Gò Vấp. Tại đây cả nhóm rủ nhau đánh bài thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài phỏm. Các con bạc sử dụng bộ bài tây 52 lá chia T 4 tụ, mỗi tụ 9 lá bài, riêng người chia bài 10 lá, 15 lá bài còn lại để trên chiếu bạc cho các con bạc lấy lên để đánh cho đến khi hết sẽ kết thúc ván bài. Người chia bài được đánh đầu tiên, sẽ bỏ 01 lá bài lẻ trong bài của mình xuống chiếu bạc. Người kế tiếp theo vòng sẽ ăn lá bài trên nếu được phỏm (phỏm là 01 bộ gồm từ 03 lá bài trở lên giống nhau hoặc sảnh đồng màu, đồng chất gồm từ 03 lá bài trở lên) hoặc lấy lên 01 lá bài trong phần bài còn lại trên chiếu bạc rồi bỏ xuống 01 lá bài. Người kế tiếp sẽ tiếp tục đánh như trên đến kết thúc vòng thứ tư, nếu không có người được “ù” (“ù” là người có đủ 09 lá bài đủ phỏm, không có lá bài lẻ) thì các con bạc sẽ kiểm bài của nhau để tính điểm rồi tính thắng thua. Người trên bài có ít điểm nhất là thắng, những người còn lại đều thua và chung tiền cho người thắng. Cách tính ăn thua như sau: Người về nhì thua 100.000 đồng, về thứ ba thua 200.000 đồng, về chót thua 300.000 đồng, người bị cháy (không có phỏm) thua 400.000 đồng, người ù (3 phỏm) ăn mỗi người 500.000 đồng, thắng ù tròn thì ba người thua chung mỗi người 1.000.000 đồng.

Khi đánh bài H mang theo số tiền 1.300.000 đồng, H thắng được 500.000

đồng, đến khi bị Công an bắt quả tang thu giữ của H số tiền 1.800.000 đồng. Khi đi đánh bài, H mang theo 8.000.000 đồng, H thắng được 1.200.000 đồng nhưng đã bỏ ra 100.000 đồng tiền xâu cho T, khi Công an bắt quả tang thu giữ của H số tiền 9.100.000 đồng. Khi đi đánh bài T mang theo 2.700.000 đồng, T thua 700.000 đồng, ngoài ra còn bỏ ra 100.000 đồng tiền xâu cho T, khi bị Công an bắt quả tang thu giữ của T số tiền 1.900.000 đồng. Khi đi đánh bài, K mang theo 2.000.000 đồng, K thua 1.000.000 đồng, khi Công an bắt quả tang thu giữ của K số tiền 1.000.000 đồng.

Ngoài ra, khi bắt giữ các bị can, lực lượng chức năng còn thu giữ của Lê

Đức H 01 điện thoại di động Iphone 11, 01 xe máy Honda Airblade, biển số 69D1 -. Thu giữ của Tăng Hoàng K 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, 01 xe gắn máy Suzuki Sport, biển số 59S1-012.60. Thu giữ của Trần Công H 01 điện thoại di động Iphone 12. Thu giữ của Phạm Đình T 01 điện thoại đi động Iphone 12, 01 điện thoại Iphone 7 Plus và 01 xe gắn máy Yamaha Exciter, biển số 48F1 - 043.34. Xét thấy các tài sản gồm 05 điện thoại di động và 01 xe máy Yamaha Exciter nêu trên không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 21/11/2022 08/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã ra quyết định trả lại các tài sản trên cho các bị can và yêu cầu CQĐT Công an quận Gò Vấp thực hiện.

Đối với, Lê Đức T tuy không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng T đã sử

dụng quán cà phê do mình làm chủ để cho các con bạc thực hiện hành vi đánh bạc, T trực tiếp cung cấp bài, phục vụ đồ ăn nước uống và thu tiền xâu từ các con bạc, mặc dù chưa đủ định lượng để xử lý T về tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nhưng T phải chịu trách nhiệm về hành vi đồng phạm với Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và Tăng Hoàng K về tội “Đánh bạc” quy định tại điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sử đổi bổ sung năm 2017.

Vật chứng thu giữ:

- Tiền Việt Nam: 14.000.000 đồng (gồm 13.800.000 đồng là tiền thu của

các các con bạc dùng để đánh bạc còn 200.000 đồng là tiền xâu các con bạc đưa cho T).

- 01(một) cái bàn, 04 (bốn) cái ghế, 01 (một) tấm vải sooc Caro màu xám,

01 (một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 05 (năm) bộ bài tây chưa qua sử dụng.

- 01 (một) xe gắn máy Honda Airblade biển số: 69D1 - 149.02 có số máy:

JF46E4281259, số khung: 4608DY368998, thu giữ của Lê Đức H. Qua xác minh, xe máy trên liên quan đến vụ Trộm cắp tài sản tại huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình đã khởi tố vụ án. Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã yêu cầu Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp giao xe trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

- 01 (một) xe gắn máy Suzuki Sport biển số: 59S1 - 012.70 có số máy: F124

- 139460, số khung: PMSRU120UOXA39460, thu giữ của Tăng Hoàng K. Quá trình điều tra, K khai nhận mua xe máy trên trên mạng, không làm giấy tờ mua bán. Do xe không có nguồn gốc rõ ràng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp đã nhập kho vật chứng để phục vụ xét xử.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp đã nhập kho vật chứng

các vật chứng trên theo Phiếu nhập kho vật chứng số 13/PNK ngày 03/02/2023 đ

Tại bản cáo trạng số 44/CTr-VKS ngày 13/02/2023 của Viện Kiểm sát

nhân dân quận Gò Vấp truy tố các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và Tăng Hoàng K về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và

đề nghị Hội đồng xét xử

Xử phạt các bị cáo:

- Lê Đức T từ 09 tháng đến 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian

thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

- Lê Đức H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo,

thời gian thử thách từ 02 đến 03 năm.

- Trẩn Công H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo,

thời gian thử thách từ 02 đến 03 năm.

- Phạm Đình T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo,

thời gian thử thách từ 02 đến 03 năm.

- Tăng Hoàng K từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án

treo, thời gian thử thách từ 02 đến 03 năm.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 14.000.000 đồng.

- Tịch thu tiêu hũy 06 bộ bài tây 52 lá.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc xe gắn máy Suzuki Sport biển số:

59S1 - 012.70 có số máy: F124 - 139460, số khung: PMSRU120UOXA39460.

Bào chữa chữa bị cáo H, Luật sư thống nhất với tội danh và điều luật mà

Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết cho bị cáo, T khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, là lao động chính trong gia đình, có nơi cư trú ổn định. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò

Vấp, Tp. Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, kH nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và Tăng Hoàng

K tại phiên tòa hôm nay sau khi đại diện Viện kiểm sát công bố bản cáo trạng đã khai nhận lại toàn bộ diễn biến của quá trình phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, cùng tang vật

đã được thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và Tăng Hoàng K đã phạm vào tội “Đánh bạc” được qui định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự .

Hành vi đánh bạc của các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức H, Trần Công H,

Phạm Đình T và Tăng Hoàng K là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, nó là một trong những tệ nạn xã hội mà Nhà nước nghiêm cấm, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, chính từ việc đánh bạc sẽ dẫn đến việc gia tăng các tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng đến cuộc sống hạnh phúc của nhiều gia đình dẫn đến sự tan rã, tạo thêm gánh nặng cho xã hội và đó cũng là một trong những nguyên nhân chính làm phát sinh nhiều tội phạm khác…đồng thời còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Chỉ vì muốn thoả mãn thú tiêu khiển cá nhân và có tiền để tiêu xài mà không phải thông qua lao động chân chính các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi đánh bài phỏm thắng thua bằng tiền là lối sinh hoạt không lành mạnh, kích thích lòng tham và lối sống lười biếng lao động cho người khác, bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện ý thức các bị cáo rất xem thường pháp luật. Do đó, việc xử lý bằng biện pháp hình sự đối với các bị cáo là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo T cho các bị cáo Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và Tăng

Hoàng K mượn địa điểm để đánh bạc dưới hình thức chơi bài Phỏm ăn thua bằng tiền tại quán cà phê do bị cáo T làm chủ. Hội đồng xét xử xét thấy tổng số tiền các bị cáo Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và Tăng Hoàng K dùng để đánh bạc là 14.000.000 đồng nên Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, riêng đối với bị cáo T cho các con bạc Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và Tăng Hoàng K chơi đánh bạc tại quán cà phê do mình làm chủ và thu tiền xâu được 200.000 đồng nên chưa đủ căn cứ truy tố bị cáo Lê Đức T về tội tổ chức đánh bạc, nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Đức T đồng phạm về tội Đánh bạc với các bị cáo Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và Tăng Hoàng K theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có cơ sở. Do đó hình phạt của bị cáo T phải cao hơn các bị cáo Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và Tăng Hoàng K.

Đối với các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và

Tăng Hoàng K phải chịu mức hình phạt tương xứng với tội lỗi của các bị cáo nhưng xét thấy gia đình các bị cáo thuộc T phần lao động nghèo, bản thân các bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong thời gian tại ngoại không phạm thêm tội mới, chấp hành nghiêm chỉnh giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng, có nơi cư trú rõ ràng, qua đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp cho các bị cáo được hưởng án treo, cho nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, cho các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và Tăng Hoàng K hưởng mức án có thời gian thử thách lâu dài và thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải.

Về hình phạt bổ sung qui định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình

sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên miễn phạt.

Về xử lý vật chứng vụ án:

- Đối với số tiền 14.000.000 đồng là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc nên

Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 06 bộ bài tây 52 lá, 01 cái bàn, 04 cái ghế, 01 tấm vải sooc Caro

màu xám, các bị cáo dùng để đánh bạc không còn giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Suzuki Sport biển số: 59S1 - 012.70 có số

máy: F124 - 139460, số khung: PMSRU120UOXA39460 qua xác minh không có giấy tờ hợp pháp, bị cáo K khai mua trên mạng không có giấy tờ mua bán, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với chiếc xe gắn máy Honda Airblade biển số: 69D1 - 149.02 có số

máy: JF46E4281259, số khung: 4608DY368998, thu giữ của Lê Đức H liên quan đến vụ trộm cắp tài sản tại huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp giao xe trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau để điều tra, xử lý theo thẩm quyền là phù hợp với qui định của pháp luật.

- Xét lời bào chữa của luật sư, bào chữa cho bị cáo Lê Đức H là có cơ sở nên

Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Lê Đức T, Lê Đức H, Trần Công H, Phạm Đình T và

Tăng Hoàng K phạm tội “Đánh bạc”;

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của

Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Lê Đức T 01(một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời

gian thử thách là 02(hai) năm. Tính kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 08 quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí

Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

- Xử phạt bị cáo Lê Đức H 09(chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời

gian thử thách là 01(một) năm 06(sáu) tháng. Tính kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 11, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ

Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

- Xử phạt bị cáo Trần Công H 09(chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,

thời gian thử thách là 01(một) năm 06(sáu) tháng. Tính kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 08 quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí

Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

- Xử phạt bị cáo Phạm Đình T 09(chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,

thời gian thử thách là 01(một) năm 06(sáu) tháng. Tính kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho cho Ủy ban nhân dân phường 02, quận 03, Thành phố Hồ Chí

Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

- Xử phạt bị cáo Tăng Hoàng K 09(chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,

thời gian thử thách là 01(một) năm 06(sáu) tháng. Tính kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 08 quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí

Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm

nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

Trong trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực

hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm

2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy 06 bộ bài 52 lá, cái bàn, 04 cái ghế, 01 tấm vải sooc Caro

màu xám.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 14.000.000 đồng;

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước chiếc xe gắn máy Suzuki Sport biển số:

59S1 - 012.70 có số máy: F124 - 139460, số khung: PMSRU120UOXA39460.

(Theo PH nhập kho vật chứng số 13/PNK ngày 03/02/2023 của cơ quan cảnh

sát điều tra Công an quận Gò Vấp).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn)

đồng.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

(Chủ tọa đã giải thích chế định án treo)

Nơi nhân:

Cỡ chữ