- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Thị Mĩ L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Thị Mĩ L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/HS-ST Ngày: 19/9/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hoan và ông Hoàng Ngọc Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2023/TLST-HS ngày 31/8/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:
Trƣơng Thị Mĩ L, sinh năm 1997; Nơi sinh và cư trú: thôn T, xã C, huyện T1, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn M và bà Lê Thị M1; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 28/6/2023, chuyển tạm giam ngày 04/7/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (có mặt).
* Người làm chứng:
+ Bà Lê Thị M1; vắng mặt
+ Anh Nguyễn Văn T2; vắng mặt
+ Anh Phạm Văn T3; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 28/6/2023, L đang ở nhà thì có Phạm Văn T3, sinh năm 1997 ở thôn Phương La, xã Cẩm Chế, huyện T1, tỉnh Hải Dương hỏi mua 500.000 đồng ma túy, L đồng ý bán. L vào nhà cầm theo 02 gói ma túy để bán cho T3 01 túi, còn 01 túi L cất giấu để bán cho ai có nhu cầu cần mua. Khi L cầm ma túy đi bộ đến khu vực đường thôn T, xã C, huyện T1 để bán ma túy cho T3, T3 nói không có tiền và xin được mua chịu, lúc này lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ 02 túi nilon màu trắng, kích thước 01x02cm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Tiến hành khám xét chỗ ở của L, thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 chai nhựa loại chai nước màu trắng, có nắp đỏ, trên nắp có gắn 01 coóng bằng thủy tinh và 01 ống hút nhựa màu trắng. Quá trình điều tra, L khai nhận nguồn gốc số ma túy nêu trên là L mua của một người đàn ông không quen biết ở Hải Phòng vào ngày 27/6/2023 với giá một triệu đồng được 03 túi ma túy đá, L đã sử dụng 01 gói, còn 02 gói L cất giấu mục đích để bán kiếm lời.
Kết luận giám định số 335 ngày 30/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 ghi thu của Trương Thị Mĩ L gửi đến giám định có khối lượng là 0,173 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2 ghi thu của Trương Thị Mĩ L gửi đến giám định có khối lượng là 0,217 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 49/CT-VKSHD-TH ngày 31/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Trương Thị Mĩ L về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi mua bán ma túy như cáo trạng đã mô tả.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Thị Mĩ L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử phạt bị cáo Trương Thị Mĩ L 30-33 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 28/6/2023. Hình phạt bổ sung: không áp dụng. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 chai nhựa loại chai nước màu trắng, có nắp đỏ, trên nắp có gắn 01 coóng bằng thủy tinh và 01 ống hút nhựa màu trắng; tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 28/6/2023, tại đoạn đường thuộc thôn T, xã C, huyện T1, tỉnh Hải Dương, Trương Thị Mĩ L đã có hành vi cất giấu trái phép 02 gói ma túy có trọng lượng lần lượt là 0,173g và 0,217g Methamphetamine mục đích để bán, khi đang bán cho Phạm Văn T3 01 gói ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng nào. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Xét ma túy hoàn lại sau giám định là vật chứng cấm lưu hành, các vật chứng khác đựng trong phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 chai nhựa loại chai nước màu trắng, có nắp đỏ, trên nắp có gắn 01 coóng bằng thủy tinh và 01 ống hút nhựa màu trắng, L khai đây là công cụ phục vụ cho việc sử dụng trái phép chất ma túy, xét các vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với người bán ma tuý cho L, do không xác định được, nên không có căn cứ xử lý.
L khai nhận đã sử dụng 01 túi ma túy vào trưa ngày 28/6/2023 tại nhà ở, ngoài lời khai của L không còn tài liệu nào chứng M1 L sử dụng ma túy, do vậy không có căn cứ để xử lý L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với Phạm Văn T3 là người đã hỏi mua ma túy của L mục đích để sử dụng, tuy nhiên do T3 chưa nhận được ma túy nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với T3.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Thị Mĩ L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Trương Thị Mĩ L 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2023.
3. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa loại chai nước màu trắng, có nắp đỏ, trên nắp có gắn 01 coóng bằng thủy tinh và 01 ống hút nhựa màu trắng. Tịch thu tiêu hủy các mẫu vật đựng trong các phong bì niêm phong do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại sau giám định.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện Thanh Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).
4. Về án phí: Bị cáo L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. N¬i nhËn:
T.m Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
- VKSND huyÖn Thanh Hà;
| - VKSND tỉnh Hải Dương; - Bộ phận HSNV-Công an huyện Thanh Hà; - Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện Thanh Hà; - Cơ quan Thi hành án hình sự -Công an tỉnh Hải Dương; - Chi côc THADS huyÖn Thanh Hà; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ` Vũ Thị Nhung |