- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Về Hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Vi Văn H 18 (Mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 53/2023/HS-ST Ngày 27 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Diên Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Huế và bà Trần Thị Hương;
- Thư ký phiên tòa: Ông Lang Thanh Như, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Sơn, Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo: Vi Văn H, tên gọi khác: Không, sinh năm 1991 tại huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản Th, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 5/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn Th (đã chết) và bà Vi Thị M; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14 tháng 4 năm 2023 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Thái Q, Chức danh: Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý chi nhánh số 2 - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh Nghệ An, có mặt;
- Người chứng kiến: Anh Hà Hải Đ, sinh năm 1997;
Trú tại: Bản Th, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ, ngày 14 tháng 4 năm 2023, Vi Văn Hòa trú tại bản Thanh Phong 2, xã Mường Nọc, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An đang đi sửa đường ống dẫn nước về nhà thì gặp hai người đàn ông không quen biết và hỏi mua với hai người này được 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) mục đích để sử dụng. Mua được ma túy Vi Văn Hòa cầm ở trong tay phải rồi đi bộ về nhà. Khi đi đến khu vực ngã ba thuộc bản Thanh Phong 2, xã Mường Nọc, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ công tác Công an huyện Quế Phong phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 02 gói chất bột màu trắng (nghi là Heroine) ở trong tay phải của Vi Văn Hòa.
Theo Kết luận giám định số 447/KL - KTHS(Đ2-MT) ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
“- 02(hai) mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Vi Văn Hòa gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- Số chất bột màu trắng thu giữ của Vi Văn Hòa có tổng khối lượng là 0,37g (Không phẩy ba mươi bảy) gam”.
Về vật chứng của vụ án thu giữ: 0,37g (Không phẩy ba mươi bảy) gam ma túy Heroine, Cơ quan điều tra đã lấy 0,2g (Không phẩy hai) gam gửi đi giám định và đã sử dụng hết trong quá trình giám định. Vật chứng còn lại là: 0,17g (Không phẩy mười bảy) gam ma túy Heroine, mảnh bao ni lông màu hồng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong theo đúng quy định. Vật chứng nêu trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Phong quản lý theo quy định.
Tại Bản cáo trạng số 51/CT-VKS-QP ngày 16/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Vi Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện Quế Phong trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vi Văn H từ 12 đến 18 tháng tù. Và không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng: điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại là 0,17g (Không phẩy mười bảy) gam ma túy Heroine, mảnh bao ni lông màu hồng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu của Vi Văn H.
Trong vụ án này, đối với hai người đàn ông có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Vi Văn Hòa (theo lời khai của Hòa) do không xác định được lai lịch cụ thể, nên chưa có căn cứ để điều tra xử lý.
Người bào chữa không tranh luận về tội danh và đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và thừa nhận hành vi của mình như lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo, người bào chữa cùng những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Vi Văn H thừa nhận Vào hồi 12 giờ 00 phút, ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại khu vực bản Thanh Phong 2, xã Mường Nọc, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, Vi Văn Hòa đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,37 gam ma túy Heroine. Bị cáo Vi Văn H khai nhận mua ma tuý với mục đích sử dụng. Xét Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai có tại hồ sơ, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định số 447/KL - KTHS(Đ2-MT) ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An. Sự phù hợp thống nhất của các chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vi Văn H đã cất giữ trái phép 0,37g (Không phẩy ba mươi bảy) gam ma túy Heroine để sử dụng. Do đó, bản Cáo trạng số 51/CT- VKS-QP ngày 16/5/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo hoàn toàn có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Ngoài ra, ma túy là một loại chất độc dược gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng và cũng là mầm mống lan truyền các căn bệnh xã hội như HIV, AIDS, .... vv. Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác.
Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được tác hại của ma túy, biết rằng việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng trị nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bi ̣ cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo là chưa phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về vật chứng: Ma tuý là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về Hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Vi Văn H 18 (Mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 14 tháng 4 năm 2023. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư được niêm phong đúng theo quy định bên trong đựng: 0,17g (Không phẩy mười bảy) gam Heroine, các mảnh bao ni lông màu hồng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu của Vi Văn H.
(Đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện Quế Phong và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong ngày 17/5/2023).
3. Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phì Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vi Văn H.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Quế Phong; - Công an huyện Quế Phong; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Trại giam Công an tỉnh Nghệ An; - Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS huyện Quế Phong; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký, đóng dấu) Hồ Diên Tuấn |