vanban.org

Bản án 53/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý Văn N 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/6/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn Ngọc phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HS-ST
Ngày 27-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Cao Sơn

Bà Vi Thị Hiệp

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Nhật Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Trần Lệnh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng ̣9 năm 2023 đối với bị cáo:

Lý Văn N (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 16 tháng 5 năm 1994 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn I, sinh năm 1964 và bà Dương Thị L (đã chết); vợ: Lưu Thị T; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền sự: Không có; tiền án: Tại Bản án số 57/2021/HSST ngày 30/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 03/11/2022 đã chấp hành xong (chưa được xóa án tích); nhân thân: Tại Bản án số 47/HSPT ngày 02/8/2012 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội Vận chuyển hàng cấm (đã được xóa), chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, bị bắt tạm giữ từ ngày 02/6/2023 đến ngày 05/6/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 02/6/2023, Lý Văn N một mình đón xe khách từ thôn C, xã Y đi đến thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để chơi. Khi đến khu vực ngã ba thuộc khu B, thị trấn L, Lý Văn N xuống xe, đi bộ đến quán nước cạnh đường để ngồi uống nước. Sau đó, Lý Văn N nảy sinh ý định đi mua ma túy về sử dụng nhưng không biết mua ma túy ở đâu nên Lý Văn N đã nói chuyện với một người đàn ông (không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) ngồi cùng quán nước với Lý Văn N với nội dung: “Tao đang tìm mua ma túy, mày biết chỗ nào lấy được không” thì người đàn ông trả lời: “Có! Tao lấy được”. Sau đó Lý Văn N nhờ người đàn ông đi mua ma túy giúp Lý Văn N và hứa trả tiền những cốc nước mà người đàn ông uống trước đó thì người đàn ông đồng ý. Lý Văn N đưa cho người đàn ông số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), người đàn ông đó nhận tiền rồi điều khiển một chiếc xe mô tô (N không nhớ rõ biển kiểm soát) đi đâu đó. Khoảng 15 phút thì quay lại quán nước đưa cho Lý Văn N 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy heroin. Lúc này, khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, Lý Văn N cầm lấy gói ma túy cất giấu trong túi quần bên phải, phía trước đang mặc rồi đi bộ đến khu H, thị trấn L tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Lộc Bình kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ gói ma túy mà Lý Văn N đã cất giấu và được đưa về trụ sở để xác minh, làm rõ.

Tại bản Kết luận giám định số 612/KL-KTHS ngày 04/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,104 gam (đã trừ bì).

Về vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) phong bì thư ghi chữ "Đồ vật, tài liệu thu giữ của Lý Văn N khi bị bắt quả tang ngày 02/6/2023" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh Thái, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới, bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,083 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt là do dùng làm mẫu giám định hết) và vỏ bao gói (cũ).

Tại Cáo trạng số: 53/CT-VKSLB, ngày 11 tháng ̣9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lý Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Lý Văn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lý Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lý Văn N từ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng đến 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo là người sử dụng chất ma túy, không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ còn lại sau giám định và vỏ bao gói (cũ).

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Hồi 10 giờ 00 phút ngày 02/6/2023, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Lộc Bình làm nhiệm vụ tại khu vực khu Hòa Bình, thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Lý Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,104 gam chất ma túy Heroin cất giấu trong túi quần bên phải, phía trước đang mặc, với mục đích để sử dụng. Với hành vi trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lý Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, ma túy là chất gây nghiện, gây tổn hại về sức khỏe và kinh tế cho gia đình, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo là người sử dụng chất ma túy nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý theo quy định của pháp luật mới đảm bảo tính nghiêm minh, đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Tại Bản án số 47HSPT ngày 02/8/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội Vận chuyển hàng cấm, thời gian thử thách 12 tháng, đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân không tốt.

Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo là người đã có tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy tính đến thời điểm phạm tội (ngày 02/6/2023) bị cáo chưa được xóa án tích nay lại tái phạm. Chính tỏ bị cáo không ăn năn, tu dưỡng rèn luyện bản thân làm người lương thiện nên xét thấy cần có một hình phạt tương xứng, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, như vậy mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu và lời khai tại phiên tòa bị cáo là người sử dụng chất ma túy, không có thu nhập, không có tài sản riêng. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 0,083 gam ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và vỏ bao gói (cũ) đựng trong 01 phong bì thư niêm phong là chất ma túy Heroin do Nhà nước quản lý cấm lưu hành và là vật không có giá trị, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lý Văn N tại quán nước khu vực ngã ba thuộc khu B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn do bị cáo không biết được họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Lộc Bình không có căn cứ để điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo Lý Văn N phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, điểm c khoản1 Điều47, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý Văn N 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/6/2023.

3. Xử lý vật chứng

Tịch thu tiêu hủy 0,083 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt là do dùng làm mẫu giám định hết) và vỏ bao gói (cũ) đựng trong 01 (một) phong bì thư niêm phong ghi chữ "Đồ vật, tài liệu thu giữ của Lý Văn N khi bị bắt quả tang ngày 02/6/2023" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh Thái, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/9/2023).

4. Án phí: Bị cáo Lý Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Cỡ chữ