vanban.org

Bản án 53/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 28/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Chiểu phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Chiểu: 36 (Ba mươ sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 60 tháng, kể từ ngày tuyên án 15/9/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Giao bị cáo Trần Văn Chiểu cho Ủy ban nhân dân thị trấn Vân Du, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Ch giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Chiểu phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 145 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HS-ST
Ngày: 15/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa

- Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Bùi Trịnh Thị Thắng - Nguyên Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam TT Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

+ Ông Bùi Văn Ơn - Nguyên Phó Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Khánh Linh - Thư ký toà án nhân dân huyện Lạc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà: Ông Đinh Thế Tâm - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn.

Ngày 15/9/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 69/2023/HSST ngày 02 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn Chiểu, sinh ngày 24/5/1993; Nơi sinh: TT Vân Du, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: khu phố xóm Sắn, TT Vân Du, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: lao động phổ thông. Con ông Trần Văn Bính, sinh năm 1966 và bà Trần Thị Vân, sinh năm 1970; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Bùi Thị Chúc, sinh năm 2005; Con: 01 con, sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cơ trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bùi Thị Chúc, sinh năm 2005; Địa chỉ: xóm Chạo Nạc, xã Tuân Đạo, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt theo đơn xin xét xử vắng mặt ngày 10/9/2023.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Bùi Văn Tần, sinh năm 1952. Địa chỉ: xóm Mòi 2, xã Tân Lập, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt theo đơn xin xét xử vắng mặt ngày 10/9/2023.

+ Ông Trần Văn Bính, sinh năm 1966. Địa chỉ: khu phố xóm Sắn, TT Vân Du, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt theo đơn xin xét xử vắng mặt ngày 11/9/2023.

+ Bà Trần Thị Vân, sinh năm 1970. Địa chỉ: khu phố xóm Sắn, TT Vân Du, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng cuối tháng 7 năm 2020, Trần Văn Chiểu, sinh năm: 1993, trú tại khu phố Xóm Sắn, Thị trấn Vân Du, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, kết bạn và làm quen với Bùi Thị Chúc, sinh ngày 08 tháng 02 năm 2005, trú tại: xóm Mòi 2, xã Tân Lập, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, qua mạng xã hội acebook. Sau đó, gi a Trần Văn Chiểu và Bùi Thị Chúc nảy sinh tình cảm nam n yêu nhau. Trước khi gặp nhau, Bùi Thị Chúc nói với Trần Văn Chiểu là Bùi Thị Chúc sinh năm 2003, sau đó Bùi Thị Chúc rủ Trần Văn Chiểu sang nhà Bùi Thị Chúc chơi. Vào buổi tối, một ngày cuối tháng 7 năm 2020, Trần Văn Chiểu sang nhà Bùi Thị Chúc tại xóm Mòi 2, xã Tân Lập, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình chơi. Sau đó, Trần Văn Chiểu đưa Bùi Thị Chúc ra khu vực Thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đi chơi. Trần Văn Chiểu và Bùi Thị Chúc vào một quán nước ở khu vực xóm Nam Hòa 2, xã Xuất Hóa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình ngồi uống nước nói chuyện, tâm sự với nhau do lâu ngày nên Bùi Thị Chúc và Trần Văn Chiểu không nhớ tên và địa chỉ cụ thể quán nước . Được một lúc sau, Bùi Thị Chúc có rủ Trần Văn Chiểu đi nhà nghỉ để vệ sinh cá nhân, nhưng mục đích là để quan hệ tình dục với nhau. Trần Văn Chiểu nghĩ Bùi Thị Chúc đã đủ 16 tuổi như Bùi Thị Chúc nói nên Trần Văn Chiểu đã đồng ý. Trần Văn Chiểu đưa Bùi Thị Chúc vào nhà nghỉ Minh Nguyệt, địa chỉ tại phố Tân Giang, Thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Trần Văn Chiểu vào quầy lễ tân thuê phòng, Trần Văn Chiểu lấy phòng 203. Sau đó, Trần Văn Chiểu và Bùi Thị Chúc cùng lên phòng, khi vào trong phòng, Trần Văn Chiểu và Bùi Thị Chúc ôm hôn nhau, rồi hai người cùng n m xuống giường, tự cởi bỏ quần áo của mình rồi mân mê, sờ mó cơ thể và bộ phận sinh dục của nhau. Một lúc sau, Bùi Thị Chúc n m ngửa ra giường, hai chân dạng ra, còn Trần Văn Chiểu qu gối gi a hai chân của Bùi Thị Chúc, rồi cầm lấy dương vật của mình đang cương cứng đưa vào bên trong âm đạo của Bùi Thị Chúc, được khoảng 10 phút thì Trần Văn Chiểu xuất tinh vào bên trong âm đạo của Bùi Thị Chúc. Sau đó, Trần Văn Chiểu ôm Bùi Thị Chúc n m trên giường. Một lúc sau, Trần Văn Chiểu và Bùi Thị Chúc tự mặc lại quần áo, Trần Văn Chiểu xuống quầy lễ tân trả phòng. Sau đó, Trần Văn Chiều đưa Bùi Thị Chúc về nhà Bùi Thị Chúc tại xóm Mòi 2, xã Tân Lập, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, sau khi đưa Bùi Thị Chúc về đến nhà, Trần Văn Chiểu đi về nhà mình. Thời gian sau đó, Trần Văn Chiểu tiếp tục liên lạc với Bùi Thị Chúc qua mạng xã hội acebook. Được một thời gian sau, Bùi Thị Chúc phát hiện bản thân có thai và báo cho Trần Văn Chiểu biết, Trần Văn Chiểu đã nhận trách nhiệm và chăm sóc Bùi Thị Chúc trong quá trình mang thai. Đến ngày 08 tháng 4 năm 2021, Bùi Thị Chúc sinh con là bé gái và đặt tên bé gái là Trần Bảo An. Do Bùi Thị Chúc chưa đủ 18 tuổi nên Bùi Thị Chúc và Trần Văn Chiểu chưa đăng ký kết hôn. Sau khi Bùi Thị Chúc sinh con xong, Trần Văn Chiểu và Bùi Thị Chúc cùng chung sống, chăm sóc và nuôi dư ng bé Trần Bảo An một nhà, tại khu phố Xóm Sắn, Thị trấn Vân Du, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Đến tháng 02 năm 2023, Trần Văn Chiểu đưa Bùi Thị Chúc đi làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND Thị trấn Vân Du, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa thì Trần Văn Chiểu phát hiện Bùi Thị Chúc sinh ngày 08 tháng 02 năm 2005, chứ không phải sinh năm 2003 như trước đó Bùi Thị Chúc nói. Nhận thấy thời điểm thực hiện hành vi quan hệ tình dục với Bùi Thị Chúc thì Bùi Thị Chúc chưa đủ 16 tuổi là sai trái, vi phạm pháp luật nên Trần Văn Chiểu đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa để Tự thú về hành vi giao cấu với Bùi Thị Chúc, sinh ngày 08/02/2005, tại Thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, vào tháng 7 năm 2020.

Tại Bản kết luận giám định số: 11/KLKNTD, ngày 22/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình, kết luận: Trần Văn Chiểu tại thời điểm giám định có đủ khả năng sinh lý làm cương cứng dương vật để quan hệ tình dục.

Tại Bản kết luận giám định ADN số: 208/23/KLGĐADN-PYQG, ngày 29/3/2023, của Viện pháp y Quốc gia, kết luận:

- Bùi Thị Chúc có quan hệ huyết thống mẹ - con với Trần Bảo An, độ tin cậy 99,9999%.

- Trần Văn Chiểu có quan hệ huyết thống bố - con với Trần Bảo An, độ tin cậy 99,9999%.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đã điều tra xác minh, xác định r : Bị hại Bùi Thị Chúc sinh ngày 08 tháng 02 năm 2005 và sinh con là bé gái, tên cháu Trần Bảo An ngày 08 tháng 4 năm 2021.

Trước Cơ quan CSĐT Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, Trần Văn Chiểu đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án.

* Việc thu gi , tạm gi tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Không

* Phần dân sự: Sau khi Bùi Thị Chúc báo tin có thai, Trần Văn Chiểu đã nhận trách nhiệm, sau đó đón Bùi Thị Chúc và con đ của Bùi Thị Chúc là cháu Trần Bảo An về nhà Trần Văn Chiểu để chăm sóc và nuôi dư ng. Hiện tại, Trần Văn Chiểu đã đăng ký kết hôn với Bùi Thị Chúc và cùng chung sống một nhà.

Bị hại: Bùi Thị Chúc không yêu cầu, đề nghị bị cáo là Trần Văn Chiểu h trợ, bồi thường gì.

Theo bản cáo trạng số: 45/CT-VKS ngày 02/8/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn quyết định truy tố bị cáo Trần Văn Chiểu về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Kết thúc phần xét hỏi vị đại diện Viện kiểm sát công bố bản luận tội; Nội dung bản luận tội đã phân tích tính chất, mức độ, nguyên nhân, động cơ mục đích phạm tội, nhân thân của bị cáo; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, áp dụng điểm d khoản 2 Điều 145; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn Chiểu 36 Ba mươi sáu tháng tù và cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Không có, không đề nghị HĐXX xem xét.

Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố, nội dung bản luận tội của Viện Kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Viện Kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn hối hận về việc làm của mình, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để chăm sóc bố bị bệnh và cùng với bị hại chăm sóc con nhỏ.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả thẩm vấn và tranh tụng công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng, người có nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạc Sơn, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Tuy nhiên quá trình điều tra, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã có lời khai đầy đủ, r ràng được lưu trong hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn Chiểu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung cáo trạng, lời khai của người bị hại, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ căn cứ để xác định: Vào vào tháng 7 năm 2020 vì mục đích thỏa mãn ham muốn tình dục của bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi giao cấu với cháu Bùi Thị Chúc sinh ngày 08/02/2005. Tại thời điểm Chiểu thực hiện hành vi giao cấu cháu Chúc được 15 tuổi 4 tháng, vì vậy hành vi của bị cáo đã cấu thành vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi trên đây của bị cáo Trần Văn Chiểu không nh ng đã trực tiếp xâm hại thân thể, danh dự, nhân phẩm của tr em được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường về tâm, sinh lý của người bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự địa phương. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này, góp phần gi v ng ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tr em, người chưa thành niên.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn Chiểu không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt, thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự, tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo Chiểu thật thà khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan cảnh sát điều tra để tự thú; bố bị cáo bị tai biến, con còn nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo và người bị hại là vợ chồng, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị cho bị cáo hưởng án treo. Vì vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

. Về hình phạt: HĐXX xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; Bị cáo và người bị hại có quan hệ hôn nhân hợp pháp, bị hại có đơn xin đề nghị giảm nhẹ hình phạt và mong muốn HĐXX cho bị có được hưởng án treo để vợ chồng tiếp tục chung sống, cùng nhau lao động nuôi dậy con cái. Bị cáo và gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện Kiểm sát. HĐXX nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của khoản 4 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp, không đảm nhiệm chức vụ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo.

.Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

. Về vật chứng: Không có nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm d khoản 2 Điều 145; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Chiểu phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Chiểu: 36 (Ba mươ sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 60 tháng, kể từ ngày tuyên án 15/9/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Giao bị cáo Trần Văn Chiểu cho Ủy ban nhân dân thị trấn Vân Du, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo đó phải chấp hành hình phạt tù đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn Chiểu phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Án xử kín sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ